Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

Phản tư về những chiều hướng triết học hiện đại

Tác giả: Trần Văn Đoàn

Tiền ngôn

Trong chương này, chúng tôi tóm lược chiều hướng của các nền triết học hiện đại, mục đích không phải để giới thiệu, song để minh xác một cách gián tiếp sự hiện hữu của một nền Việt triết. Như chúng tôi sẽ trình bày sau đây, triết học không tự hạn hẹp vào một lối nhìn, một phương pháp hay một nền siêu hình, một nguyên lý nào đó. Triết học càng không đồng nghĩa với bất cứ ý hệ (ideology) nào; càng không nhắm bảo vệ một chế độ, một tổ chức, một truyền thống, một tập quyền, một tôn giáo hay một giá trị nào. Ngoài ra, công năng của triết học cũng không phải chỉ hạn hẹp vào một công năng cố định, dẫu rằng công năng ấy cao quý và tuyệt vời. Bởi lẽ, triết học không phải là một công cụ, càng không phải là một vũ khí, cũng không phải là một kiến thức khoa học chuyên biệt như toán học, y học... Vậy thì triết học là gì? Ðộc giả sẽ nhận ra một cách dễ dàng qua cách trình bày diễn biến của triết học trong lịch sử nhân loại ở phần này. Chúng tôi cố ý không đưa ra một định nghĩa, cũng không dựa theo bất cứ một bảng giá trị bất biến (Tây phương hay Ðông phương) để xét đoán triết học, bởi lẽ không có định nghĩa nào, cũng chẳng có bảng giá trị chi đầy đủ trọn vẹn. Chính vì thế, chương này chỉ trình bày những ưu và khuyết điểm của các nền triết học một cách khách quan mà thôi. Qua một cách trình bày như vậy, chúng tôi muốn xác định rằng bất cứ một định nghĩa hay một bảng giá trị nào gắn cho triết học, tự nó đã phản triết học. Ðây là một nguyên lý căn bản giúp chúng tôi phê bình nhãn quan bản vị, ý hệ, và công cụ về triết học mà chúng tôi nghĩ là chưa đủ, hay lệch lạc, hay bá đạo. Những nền triết học tự phong cho mình tính chất "tuyệt đối," "trường cửu," "khoa học," thực ra chỉ phản ảnh bản chất bá đạo nguy hiểm này. Chúng độc tôn, độc vị, độc quyền và độc tài thống trị (một cách phản triết học) tất cả mọi nền triết học cá biệt. Chúng biến thành các nền ý hệ mạo danh triết lý, tự thổi phồng lên hàng minh triết. Cũng dựa vào nguyên lý "phê phạm thuần túy" này, chúng tôi xác quyết tính chất khai phóng (Karl Popper), tự mặc khải (Martin Heidegger), tự thăng tiến (Karl Jaspers), siêu việt (Thomas Aquinas, Teilhard de Chardin), tiến về hoàn thiện (Jacques Maritain) nhưng luôn nhân bản và vị nhân (Khổng Tử) của triết học. Ðồng thời chúng tôi cũng thâm tín công nhận rằng triết học không thể tách biệt khỏi thế sinh (Lebenswelt, Life-world) như Edmund Husserl và Ludwig Wittgenstein đã xác tín. Triết học phản ảnh, phản tỉnh và thúc đẩy khiến thế sinh biến đổi và thăng hóa. Chỉ trong một mạch văn như vậy, chúng tôi xác quyết sự hiện hữu của một nền Việt triết.

Chương này xác định một cách giản lược lại ý nghĩa cũng như công năng của triết học. Chúng tôi trình bày ý nghĩa và công năng của triết học trong hai phần chính: (1) phần thứ nhất vạch ra những hạn chế, hay sai lệch, hay cực đoan về ý nghĩa và công năng của triết học; và (2) phần thứ hai lược trình các chiều hướng của triết học hiện đại. Chúng tôi sẽ trình bày các chiều hướng trên không theo thứ tự xuất hiện trong lịch sử, song theo công năng của triết học.

1. Triết học : Ý nghĩa và công năng

1.1. Hành trình triết học - Tùng Tây đáo Tầu nhập Việt

Theo truyền thống triết học Tây phương từ Aristotle qua Kinh Viện tới cận đại, suy tư một cách mạch lạc và sáng sủa là một đức tính tối thiểu của người học triết học. Thế nên trong bất cứ một tự điển triết học nào, trong bất cứ một tập sách nào có tính chất khái niệm về triết học, tác giả thường phải đưa ra một định nghĩa (definition) về triết học. Song le, có lẽ chúng ta chưa bao giờ thấy có một định nghĩa chung, hay hoàn toàn giống nhau. Ðặc biệt hơn cả, đó là, bất cứ triết gia nào, theo đúng nghĩa của triết gia, cũng có một lối nhìn khác biệt về triết học. Và do đó, ông định nghĩa triết học thường khác với những người đi trước. Ðể chứng minh xác thực tính và hữu hiệu tính của triết học của mình, ông bắt buộc phải phát minh một phương pháp mới. Ðây cũng là lý do tại sao các triết gia cận đại và hiện đại thường đưa ra những định nghĩa cũng như khởi xướng các phương pháp triết học mới.

Ngược lại, trong truyền thống của Ðông phương, nhất là của Ðạo gia, người ta họa hiếm mới thấy một giải thích (theo mạch văn của định nghĩa) về triết học. Người ta cũng chẳng mấy để ý tới phương pháp luận. Chúng ta có lẽ sẽ ngạc nhiên và nghi vấn: Nếu triết học là một môn khoa học chắc chắn như Descartes cũng như Kant đòi buộc, và nghiêm túc như Edmund Husserl chủ trương, tại sao không thể có một định nghĩa chung; càng không thể có các mệnh đề chắc chắn, cũng như các nguyên lý, định lý, định đề như thấy trong toán học? Tại sao mỗi người đều có những lối nhìn khác biệt về triết học? Và tại sao không thể có một phương pháp nhất quán trong triết học?

Nếu nhìn vào các nền triết học Ðông phương, nhất là triết học Trung Hoa và Việt Nam, chúng ta hoặc may họa mắn mới thấy một vài lời bàn về triết học, đừng nói đến một định nghĩa. Lẽ dĩ nhiên, như chúng tôi đã nhắc phớt qua, từ ngữ triết học quá mới mẻ đối với người Việt, và ngay cả người Tầu. Chính vì thế, một ý niệm về Việt triết có vẻ là lạ sao đó. Khi người Nhật vào thời Minh Trị Thiên Hoàng dịch tiếng philosophia qua tiếng của họ, thì người Trung Hoa vẫn chưa có một khái niệm rõ rệt về triết học. Những tân nho như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Nghiêm Phục... hoàn toàn dựa theo Nhật ngữ. Trước họ, các cựu nho cho rằng tất cả mọi nền học vấn ngoại lai là Tây học hay Thiên học. Chúng ta phải đợi đến thế kỷ 20, mới thấy có một quan niệm rõ ràng về nền triết học Trung Hoa. Bộ Trung Quốc Triết Học Sử Ðại Cương của Hồ Thích xuất hiện năm 1918, trong khi bộ Trung Quốc Triết Học Sử của Phùng Hữu Lan xuất hiện vào năm 1931. Song chỉ có Hồ Thích mới đưa ra một định nghĩa về triết học. Ðáng tiếc thay, họ Hồ cũng chỉ sao y bản chính định nghĩa triết học của triết gia người Mỹ, ông John Dewey, một người tiêu biểu của triết phái thực dụng (pragmatism). Dewey coi triết học như là một công cụ giúp ta tìm kiếm những nguyên nhân căn bản của nhân sinh, và tìm cách giải quyết những vấn nạn đó. Ông định nghĩa triết học như một lý thuyết về sự phê bình đi tìm nguyên nhân; và giá trị tối cao của nó là sự tiếp tục đi tìm kiếm công cụ để phê bình tất cả mọi giá trị gì thấy trong kinh nghiệm của cuộc sống con người. Như chúng tôi sẽ nhận định trong phần tới, một định nghĩa như vậy không sai, song thiếu sót. Bởi lẽ triết học không chỉ có tính cách công cụ (instrumentality) như kỹ thuật. Triết học tự nó đã là một sự khôn ngoan (sofia) và là một mục đích mà con người đeo đuổi (như Socrates đã nhận định,) tuy chưa hẳn là một mục đích tối hậu. Có lẽ ý thức được sự thiếu sót của Hồ Thích, Phùng Hữu Lan không giám đưa ra một định nghĩa chi về triết học. Trong bộ Trung Quốc Triết Học Sử, ông vòng vo tam quốc giải thích sự khác biệt giữa đông tây, với mục đích biện minh cho bộ triết sử của ông. Song trong tập A Short History of Chinese Philosophy, ông hiểu triết học như tôn giáo, và một cách đặc biệt, như Nho và Ðạo học. Bởi lẽ Nho học và Ðạo học đều đặt cuộc sống con người làm trung tâm của suy tư. Ông viết: "Về?#7847;n tôi, cái mà tôi gọi là triết học phải là sự tư duy có hệ thống và phản tỉnh về cuộc sống."

1.2. Vạn sự khởi đầu ... Sai!

Từ hai định nghĩa triết học của hai người đại biểu của giới triết học Trung Hoa vào đầu thế kỷ 20, chúng ta thấy quả thật quá nhiều thiếu sót. Nếu họ Hồ giản lược triết học vào một vai trò công cụ, thì họ Phùng lại đồng hóa triết học với một hành vi tư duy (speculative thinking). Như Lão Tư Quang nhận xét khá đúng, chính vì bị ảnh hưởng của một vài triết gia như John Dewey, Thomas Huxley (trường hợp Hồ Thích), hoặc hai trường phái tân Plato và Tân thực nghiệm (trường hợp Phùng Hữu Lan), mà lại không thấu hiểu tất cả quá trình phát sinh của triết học, cũng như nguồn gốc của quan niệm triết học, nên hai họ Hồ và Phùng đã làm triết học Trung Hoa lạc đường.

Tương tự, chúng ta cũng có thể nói, ngay từ lúc phôi thai, vì bị ảnh hưởng của triết học Pháp, và của Marx quá trầm trọng, mà giới trí thức Việt đã coi thường, vất bỏ hay hiểu nhầm Việt triết. Ngay vào lúc bắt đầu tiếp cận, đa số các giáo sư Triết dựa theo định nghĩa triết học của André Lalande. Tập Danh Từ Triết Học do một nhóm Giáo sư Triết tại Trung Học và Từ Ðiển Triết Học do Trần Văn Hiến Minh biên soạn, trên thực tế dịch "một cách rộng rãi" các từ ngữ triết học Tây phương của Lalande như thấy trong phần chọn chữ, định nghĩa và phân loại triết học. Lẽ dĩ nhiên, khi thêm các danh từ triết đông, tác giả họ Trần đã công khai công nhận lối suy tư Á đông cũng là một loại triết học. Một số học giả tự học như Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim dựa theo Tự điển Larousse bình dân và hiểu triết học như là "cái học về nguyên lý (principes) và nguyên nhân (causes) hay là những thống kê về những tổng niệm (notion générales) của tất cả các sự vật, cốt để định rõ cái nghĩa của nhân sinh ở đời và cái địa vị của người ở trong tạo hóa." Tuy vậy, mặc dù Trần quân ý thức một cách rõ ràng là Nho giáo không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa trên, tiên sinh vẫn nhắm mắt coi Nho giáo như là một nền triết học. Riêng Trần Ðức Thảo định nghĩa triết học theo quan niệm của Marx, coi triết học chỉ là một sản phẩm thượng tầng, phản ảnh hạ tầng xã hội, như thấy trong tập Triết Học Ði Về Ðâu? và đặc biệt trong tập luận án Phénoménologie et matérialisme dialectique, một tập sách đã gây được một tiếng vang trong giới triết học Pháp vào thập niên 1950s. Kim Ðịnh trong Những Dị Biệt Giữa Hai Nền Triết Lý Ðông Tây, hiểu triết học như lý học. Ðặc biệt hơn, Lương tiên sinh phân biệt triết học khỏi triết lý, và triết lý khỏi minh triết. Tiên sinh xếp loại triết học đông phương vào phạm trù minh triết. Lối nhìn của Lương thị phần nhiều bị ảnh hưởng của Phùng Hữu Lan, mà họ Phùng lại hiểu triết học một cách rất hạn hẹp, hay, nói theo họ Lão là, chưa thấu triệt triết học Âu Mỹ, nên chúng tôi ít nhắc tới trong bài này. Riêng về Việt triết, thì chưa có một định nghĩa nào, trừ những nhận xét rất khoáng đại như là một nền quốc học hay đồng nghĩa với Việt nho, hay là chủ nghĩa ái quốc, hay là cốt lõi của đạo học, hay là ý hệ quốc gia, vân vân. Riêng chúng tôi đã tạm đề nghị một định nghĩa về Việt triết như thấy trong chương thứ nhất của Việt Triết Luận Tập. Nói tóm lại, chúng ta nhận thấy một sự thiết yếu của công việc xác định ý nghĩa của triết học. Song cùng lúc, chúng ta cũng ý thức được sự khiếm khuyết của bất cứ một định nghĩa nào. Vậy thì, chúng tôi không lập lại các định nghĩa triết học. Như đã nói trên, chúng tôi cố ý không đưa ra một định nghĩa về triết học nơi đây. Ngược lại, chúng tôi sẽ trình bày hai lối nhìn về triết học: lối nhìn phủ định, và lối nhìn xác định. Lối nhìn phủ định nhắm xóa bỏ những hiểu nhầm, hay sai lầm bóp méo triết học; trong khi lối nhìn xác định hay tích cực nhắm tìm ra những đặc tính phổ quát và bất biến của triết học.

1.3. Sai một li đi một dặm

Nhà bác học Aristotle từng nhận xét "Sự sai lệch (từ) chân lý tuy rất nhỏ vào lúc đầu, sẽ lớn rộng cả ngàn lần về sau." Tương tự, thánh Thomas Aquinas, theo Aristotle, cũng nói rằng những lỗi lầm nho nhỏ vào lúc khởi đầu sễ đưa tới những hậu quả nguy hiểm vào lúc kết thúc. Theo chân các vị, chúng tôi nghĩ là, để hiểu triết học, chúng ta có lẽ nên bắt đầu với công việc vạch ra những "sai lầm", "lệch lạc" nho nhỏ về triết học. Những lỗi đã khiến nhiều người lầm tưởng triết học đồng nghĩa với ý hệ, tôn giáo, hay giản hóa triết học thành một nền tri thức, một hệ thống luân lý, một phương pháp cố định, hay một công cụ, một kỹ thuật suy tư, vân vân.

- Thứ nhất, Triết học không tự hạn hẹp vào một công năng nhất định. Ngay từ thời Hy Lạp, khi các triết gia cho rằng triết học là sự yêu quí, và truy tầm sự khôn ngoan, các vị đã không hạn hẹp triết học vào một công năng cố định, hay bất biến. Yêu khôn ngoan bằng cách nào, hay khôn ngoan là gì? Không ai có thể xác định. Trong truyền thống triết học Tây phương, mỗi người hiểu khôn ngoan một cách khác biệt. Socrates đồng nghĩa khôn ngoan với chân lý; Plato hiểu khôn ngoan như là một lý niệm bất biến và phổ quát. Aristotle hiểu khôn ngoan theo ba nghĩa, một tri thức chân thật (episteme), một nền kiến thức thực hành (praxis), và một sự khôn ngoan thực tiễn (pronesis). Các triết gia Kitô giáo đồng hóa khôn ngoan với chính Thượng Ðế. Ðối với họ, Thượng Ðế là cội nguồn của sự khôn ngoan. Ngài là Sapientia sapientiarum. Lẽ tất nhiên, một khi coi con người là một hữu thể tự chủ, các triết gia thời Ánh Sáng coi khôn ngoan như là đặc sản của lý trí, chứ không phải của Thượng Ðế. Tương tự, các nhà tư tưởng Trung Hoa coi sự khôn ngoan như là "minh minh đức," hay là "Vạn vật chi mẫu." hay là "chí tri," hay là "trung dung chi đạo", hay là "nội thánh ngoại vương," hay là tâm đạo nơi các tư tưởng gia người Việt (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du). Nếu nhìn vào những lối hiểu trên, chúng ta thấy rằng, hầu như tất cả mọi đại tư tưởng gia không nhất quán về ý nghĩa của khôn ngoan.

Tương tự, khi bàn đến phương pháp đạt tới sự khôn ngoan, các ngài cũng không nhất thiết đồng ý. Người thì đòi buộc ta phải biết toán học (Plato); người thì đòi những người học phải thông thạo biện chứng (Plato, Aristotle, Hegel, Marx); người thì lại bắt chúng ta phải theo trực giác (Descartes, Bergson, Blondel). Lại có những vị đòi hỏi chúng ta phải tin, phải yêu mới có thể đạt tới sự khôn ngoan (thánh Bonaventura với châm ngôn "Credo ut intelligam" và Blaise Pascal với tâm đạo.) Ngược lại, cũng có cả trường phái chủ trương kinh nghiệm, hay thực nghiệm, hay thí nghiệm mới là những phương thế tốt đẹp bảo đảm một tri thức chân thật (từ Francis Bacon, tới John Locke, David Hume). Vào thế kỷ hai mươi, sự phân ly về phương pháp càng phức tạp hơn. Ngoài các phương pháp lâu đời như phân tích, tổng hợp, diễn nghĩa, quy nạp, vân vân, rất nhiều trường phái mới như hiện tượng luận (phenomenology), kết cấu luận (structuralism), thực tại luận (realism), thực dụng luận (pragmatism), hệ phả học (genealogy), thông diễn pháp (hermeneutics), vân vân, xuất hiện không ngừng. Trong các truyền thống Nho gia, Ðạo gia, và Phật giáo, chúng ta cũng thấy các vị áp dụng các phương thế khác nhau, từ "tu thân", tới "tu tâm"; từ "thuận kỳ tự nhiên", tới "hiệp thông quỷ thần", từ "thiên nhân hợp nhất", tới "cùng kỳ lý", từ "cách vật chí tri", tới "trực giác". Thế nên chúng tôi đồng ý với Michel Foucault và Francois Lyotard, những người chủ trương một lối suy tư hậu hiện đại (postmodern), đó là không có một phương thế chi tự đủ để bảo đảm có thể đạt tới cũng như chứng minh sự khôn ngoan. Nói theo kiểu đạo học: "Ðạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh."

Nếu chúng ta không thể xác định khôn ngoan, cũng không thể có một phương thế duy nhất để đạt tới và chứng minh khôn ngoan, thì bắt buộc phải chấp nhận mệnh đề là triết học không thể tự hạn chế vào một công năng nào nhất định hay cố định nào.

- Thứ hai, Triết học không phải là Ý hệ, hay Tôn giáo, hay Giáo điều, mặc dù trong tôn giáo có triết học; mặc dù bất cứ ý hệ nào, lúc phát xuất đều là suy tư triết học. Nói cách khác, triết học có thể biến thành giáo điều, ý hệ, hay tôn giáo nếu nền triết học này biến thành công cụ bảo vệ tổ chức; nếu nó được cơ cấu hóa, được tôn thờ; và nếu tư tưởng triết học của người lãnh đạo gắn liền với chính sự lãnh đạo tạo nên quyền uy. Chính vì cùng chung một nguồn gốc, mà đa số triết gia đã không phân biệt nổi sự khác biệt giữa ý hệ và triết học. Nhất là những người chủ trương triết lý "thực hành," "nhập thế," hay coi triết học như là một công cụ, và đồng nghĩa sự khôn ngoan với "tài năng," "khả năng," "quyền hành," vân vân. Socrates đã từng cảnh cáo lối nhìn trên. Cả hơn hai ngàn năm sau, Bacon cũng đã phân tích nguy cơ của lối nhìn mà ông gọi là ý hệ (ý thức hệ, hay ý hệ hình thái). Song cái bã quyền hành cũng như nhãn quan thiển cận coi triết học như là một công cụ để đạt tới quyền uy đã quyến dũ làm triết gia quáng mắt, để rồi họ biến đổi triết học thành ý hệ phục vụ chế độ (như thấy trong nơi Nho gia). Lý thuyết lý hình biến thành chủ thuyết Plato với ảo vọng "cộng hòa." Ðạo nhân do Khổng Tử chủ trương hóa thân thành Ðạo Nho thống trị tất cả mạch huyết của Trung Hoa; Lý thuyết khoa học về xã hội của Marx, trước hết bị Lenin rồi đến Stalin, và sau cùng tới Mao Trạch Ðông cải biến thành một chủ thuyết xã hội và cộng sản với cái ảo mộng "chuyên chính," và một "thiên đường tại thế." Vậy, để giúp người đọc có một cái nhìn trung thực về triết học, chúng tôi xin vạch ra một số dị biệt giữa triết học và ý hệ như sau:

Nếu sự khôn ngoan không đồng nghĩa với bất cứ một hình thức của kiến thức hay một loại tri thức nào, và nếu triết học coi sự khôn ngoan như một sự phát triển kiến thức, và nếu sự phát huy trí năng luôn trong tình trạng vô định, thì ý hệ lại cả quyết một cách giáo điều rằng, chỉ có một loại tri thức nào đó, và gạt bỏ tất cả các nền tri thức khác. Ý hệ cho rằng, chỉ có nền tri thức duy nhất này mới "chân thật," "khoa học," "phổ quát," và "hữu hiệu." Mà một nền ý hệ như vậy thường hay đồng nhất với tư tưởng của một người có quyền uy tuyệt đối, một tập đoàn lãnh đạo, hay một tôn giáo.

Nếu triết học tự bản chất luôn thăng tiến, thì ngược lại, ý hệ tự tuyên xưng là chung cực của lịch sử, là tột đỉnh của trí tuệ. Và như thế, ý hệ từ chối không nhìn nhận tự do tính của con người cũng như thăng tiến tính của trí năng.

Nếu triết học là một quá trình phản tỉnh không ngừng về thế giới, con người, và vạn vật; và nếu triết gia luôn phải phản tư về chính chủ thể, về chính tri thức, thì ý hệ lại giáo điều yêu sách bắt buộc thế giới, con người phải "suy tư" theo cái mẫu do ý hệ đặt ra. Những hình thức lý luận nhất nguyên, hay nhị nguyên phản ảnh lối suy tư ý hệ này.

Nếu triết học hoàn toàn thoát ly khỏi quyền uy, thì ý hệ gắn liền với cơ cấu của quyền uy. Lý do là triết học không bao giờ tự khoe mình là một phương thế hữu hiệu nhất, hay một tri thức tuyệt đối và bắt những người khác phải theo. Ngược laị, bất cứ một ý hệ nào cũng rất xác tín về "sự chân thật tuyệt đối," về "hiệu lực toàn năng," cũng như "sứ mệnh" rao truyền, bảo vệ và phát huy chân lý của mình.

Ðiểm quan trọng nhất, đó là triết học tự nó đã là mục đích. Khôn ngoan không phải là công cụ, càng không phải là kỹ thuật. Chính vì vậy, triết học đồng nghĩa với sự yêu khôn ngoan (philo-sophia). Triết học không lấy hay coi sự khôn ngoan như một công cụ để đạt tới những mục đích khác như phúc, lộc, thọ, phú, quý hay ngay cả nhân, lễ, nghĩa, trí, tín... như thấy trong ý hệ Nho giáo. Ngược lại, ý hệ chỉ là một công cụ nhắm bảo vệ quyền uy, lợi tức (như thấy trong chủ nghĩa giai cấp, đảng phái, chủng tộc), hay cao quý hơn, sự sinh tồn, phát triển, tiến bộ của con người.

- Thứ ba, Triết học không có một đối tượng cố định, một phương pháp bất biến, một thế sinh bất dịch, và một mục đích vĩnh cửu. Bởi lẽ, nếu sự khôn ngoan không thể bị xác định, thì lẽ tất nhiên, mục đích của triết học cũng không thể bị xác định. Ngược lại, bất cứ một ý hệ nào cũng phải có một hay nhiều mục đích rõ ràng, thường được hiểu hay xếp theo một thứ tự tùy theo giá trị, bắt đầu với sự sống còn của sinh mệnh, sự sống còn của những phương thế, tổ chức... liên quan trực tiếp tới sinh mệnh; và tiếp tục cho với những nhu yếu, đòi hỏi, ý thích, lợi ích... làm thăng hóa, hay càng bảo đảm cuộc sống. Sau cùng, một khi đã tạm thời giải quyết những vấn nạn trên, ý hệ cũng nhắm tới những cái mà Marx gọi là thượng tầng kiến trúc, như tôn giáo, thẩm mỹ, xã giao, vân vân. Hiểu như vậy, chủ thuyết tự kỷ, chủ nghĩa gia đình, chủ nghĩa ái quốc, và ngay cả các ý hệ như thuyết khoái lạc, hưởng thụ, hiện sinh đều nói lên việc con người chủ trương, đánh giá cũng như chọn lựa mục đích khác nhau mà thôi.

- Thứ tư, Triết học không phải là kỹ khoa (technology). Khi thảo luận triết học, khi chứng minh mệnh đề, khi thuyết phục người nghe... chúng ta cần phương pháp, cũng như kỹ thuật để có thể đạt tới mục đích một cách dễ dàng và chắc chắn hơn. Song phương pháp triết học tự nó chỉ là một mục đích thứ yếu. Nó không phải là mục đích tối hậu. Chỉ từ thời Descartes, Bacon chúng ta mới bắt đầu thấy sự phát triển của "kỹ thuật" tức phương pháp triết học. Vì quá chú trọng tới phương pháp, mà nền triết học cận đại đồng hóa sự khám phá ra nhiều phương pháp mới lạ với sự phát hiện những nền triết học mới. Trên thực tế, Bacon, Descartes, Locke, Hegel tuy là cha đẻ của các phương pháp tân tiến như phân tích, thực nghiệm, kinh nghiệm và biện chứng; song những khám phá mới lạ giúp nhân loại nhiều hơn phải qui công về những triết gia như Rousseau, Hobbes, Montesquieu, Kant và Marx, bởi vì chính những vị sau mới thực sự ảnh hưởng tới chính trị, kinh tế và làm xã hội cải tiến, biến chúng thành những xã hội hoàn bị hơn. Nói như vậy, chúng tôi muốn nhắc nhở độc giả là, tuy rất quan trọng, phương pháp luận vẫn chỉ là một bộ phận của tri thức luận, và tri thức luận cũng chỉ là một chi nhánh của triết học. Mà tri thức luận, cho rằng có hoàn bị chăng nữa, vẫn không thể tự nó biến đổi thế sinh. Và như thế, lẽ tất nhiên là kỹ thuật không thể đại diện, đừng nói là có thể thay thế triết học. Vào thế kỷ 20 và trong tương lai, vì chỉ nhìn thấy những ảnh hưởng thiển cận của kỹ thuật (phương pháp), nên nhân loại đã tôn thờ kỹ thuật, biến nó thành một ý hệ; và coi nó như một mục đích tối hậu cho nhân sinh. Chủ thuyết duy khoa học, thời đại kỹ khoa là những ý hệ mới cho nhân loại, và nhất là cho những nước chậm tiến, đang phát triển như Việt Nam. Ý hệ kỹ khoa này nhắm tước đoạt ngôi báu của Thượng Ðế, và nắm vận mệnh nhân loại trong tay nó.

2. Các chiều hướng triết học hiện đại

Vậy thì, triết học là gì? Một câu hỏi mà cho đến nay không có ai có thể trả lời một cách viên mãn. Như chúng tôi đã cố ý tránh không định nghĩa triết học, không phải vì lười biếng, mà vì ý thức được là bất cứ một định nghĩa nào cũng vẫn còn thiếu sót. Thế nên, trong đoạn này, chúng tôi xin phép chỉ đưa ra những lối nhìn khác nhau dựa trên đặc tính và công năng của triết học mà thôi.

2.1. Vũ trụ học hay triết học tự nhiên (cosmology, natural philosophy)

Triết học luôn khởi đầu với những câu hỏi về cội nguồn của con người, của thế giới họ sống, về định mệnh cũng như lai sinh (future life). Vào thời Hạ (2183-1752 B.C. ?) chúng ta đã thấy xuất hiện những suy tư về vũ trụ, về luật tự nhiên, về động lực thúc đẩy, cải biến vũ trụ và con người. Vào đời Thương (1751-1112 B.C.), những tư tưởng trên bắt đầu được ghi chép một cách hỗn tạp trên những bia đá, da súc vật, hay trúc lứa. Chúng ta phải đợi tới thời nhà Châu (1111-249 B.C.), những quan niệm này mới được cô đọng, học tập và ảnh hưởng tới triết học Trung Hoa. Lối nhìn về vũ trụ này cũng ảnh hưởng tới giới trí thức Việt. Và phần bị ảnh hưởng của Ðổng Trọng Thư và của Lão Trương, các nho gia Việt thường gắn liền vũ trụ học với chiêm tinh, bói toán về định mệnh con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm có lẽ là người nổi bật nhất đại diện phái triết học này. Trong thế giới Hy Lạp, chúng ta cũng thấy có một lối suy tư như vậy vào thời Thales (624-518 B.C.) với các trường phái vùng Ionia, Milo và những người theo Pythagoras. Các triết gia truy nguyên nguồn gốc của vũ trụ, định luật của biến hóa, và cái đạo lý uyên nguyên của vũ trụ. Cái lý, hay đạo này biến hóa tứ nước tới lửa, từ khí tới vô định, từ vô định tới "tứ tượng" (kim, mộc, thủy, hỏa), và sau cùng tới thời Plato thì đạo lý uyên nguyên này chính là lý hình (eidos). Song tuy bị Socrates lôi từ trên thượng tầng khí quản trở về mặt đất, lối suy tư vũ trụ quan này vẫn tiếp tục cho tới nay, biến thành triết học tự nhiên, hay triết học khoa học. Theo quan điểm của trường phái triết học tự nhiên này, tất cả vũ trụ và ngay cả con người đều theo cùng một quy luật như nhau, đó là luật tự nhiên. Do đó, trọng điểm vủa triết học là phải làm thế nào khám phá ra quy luật của vũ trụ này. Các lý thuyết như cơ khí luận (mechanism), cơ cấu luận (structuralism), cơ thể luận (organism), tiến hóa (evolutionism)... là những lý thuyết đại biểu cho khuynh hướng triết học khoa học ngày nay. Như chúng tôi sẽ trình bày trong chương sau về bản thể và bản chất của Việt triết, vũ trụ quan của người Việt không thể tách rời khỏi nhân sinh quan, do đó họ theo một luận lý ngược lại với vũ trụ luận của Hy Lạp. Theo văn hóa Hy La, thì "thiên sao vật vậy;" song nếu theo Việt triết, thì phải là "nhân sao vật vậy." Trong một mạch văn như thế, chúng ta có thể hiểu các nhân thoại như Nữ Oa "đội đá vá trời," Lạc Long Quân - Âu Cơ đẻ "trăm trứng," Bành Tổ, Hoàng Ðế; hay các thần thoại như Thần Kim Qui, Phù Ðổng Thiên Vương, Chử Ðồng Tử... tất cả đều nói lên một vũ trụ quan, cũng như một nhân sinh quan của Việt triết.

2.2. Hữu thể học (ontology)

Thứ nhất, triết học là một sự tự khai mở của chính hữu thể. Nói cách khác, triết học là hữu thể học (ontology). Socrates đã làm một cuộc cách mạng tư tưởng khi ông lôi triết học từ trời xuống, trả lại cho con người. Từ đây, triết học không chỉ còn là một nền vũ trụ học (cosmology), song là một cuộc hành trình lịch sử truy nguyên về câu hỏi quan trọng nhất, tức về chính định mệnh của con người. Aristotle phát triển quan điểm này qua câu hỏi về chính hữu thể. Ðối với nhà bác học vĩ đại này, triết học không chỉ truy nguyên những căn nguyên tối hậu, mà quan trọng hơn, phải chú trọng đến chính hữu thể tự thân, cũng như con người thực hành trên con đường hướng về mục đích tối hậu tức Thiện (agaton). Ðối với triết học Kitô giáo, hữu thể đồng nghĩa với chính cội nguồn của vận mệnh cũng như định mệnh con người. Chính vì vậy, (thánh) Thomas Aquinas cũng như đa số các triết gia Kitô giáo hiểu Thượng Ðế như là Hữu thể tự tại và tối thượng (Summum Ens và Ens in se, hay Ens qua Ens). Ðối với đa số các triết gia hiện đại sau Heidegger, hữu thể học đồng nghĩa với một môn học về bản tính tất yếu cũng như các biến dạng và động tính của hữu thể (Sein, esse). Một môn học như thế xem ra có vẻ xa lạ với lối suy tư đông phương. Tuy nhiên nếu chúng ta hiểu hữu thể học như môn học về sinh mệnh trong diễn trình của sinh sinh bất tử (triết học của Dịch), biến hóa của sinh mệnh trong chu kỳ nhân sinh (triết lý của Phật), như một môn học về vai trò của con người giữa con người (Nho học), cũng như những ước vọng sâu xa của nhân loại (Ðạo học) hay của chính chủ thể (Trương Tử), thì chúng ta cũng có thể nói triết học Ðông phương cũng có một nền hữu thể học, tuy rằng nó chưa bao giờ tự tuyên xưng là một nền "khoa học về hữu thể tự thân" (the science of being qua being, être en tant qu'être) như thấy trong truyền thống triết học Tây phương.

2.3. Nhận thức luận (cognitive sciences)

Triết học nhắm tới một mục đích bất biến, đó chính là chân lý. Ðể có thể nhận ra, chứng minh, cũng như áp dụng chân lý, triết học đòi chủ thể phải tự phản tỉnh về chính chủ thể, về những kiến thức tiên thiên (a priori) về khách thể và về thế giới hay môi trường (medium) trong đó khách thể hiện diện, xuất hiện hay biến hóa, và về chính những điều kiện của chân lý. Nói cách khác triết học đồng nghĩa với tri thức luận (epistemology), phê phạm luận (criteriology) và kiến thức luận (gnoseology); nói chung, chúng tôi gom tất cả ba loại tri thức vào một danh từ chung đó là nhận thức luận (cognitive sciences). Như là một tri thức luận, triết học truy vấn về khả năng nhận thức của chủ thể, về bản chất của sự vật, về luật phát hiện, biến hóa của sự vật, cũng như về mối tương quan giữa chủ thể và khách thể. Như là một phê phạm luận, triết học phản tư về tất cả các điều kiện ngoại tại cũng như nội tại ảnh hưởng đến sự phán đoán của chủ thể, đến sự xuất hiện cũng như biến hóa của khách thể (sự vật). Như là một nhận thức luận, triết học đánh giá tri thức qua việc áp dụng tri thức vào trong chính thế giới mà chúng ta đang sống, và sẽ sống.

Trong một mạch văn như trên, triết học đông phương, trừ triết học Ấn Ðộ, quả là thiếu sót. Nói theo Phùng Hữu Lan, Trần Trọng Kim và Kim Ðịnh, thì nền nhận thức luận của triết đông không theo con đường tri thức luận và phê phạm luận. Triết gia đông phương trọng trực giác (intuition), cảm thông và họ nhận thức con người, vạn vật qua một phương thế như vậy. Theo sự hiểu biết thiển cận của chúng tôi, thì lối suy tư của họ gần gũi hơn với lý thuyết giác năng (noology) của Plato và Aristotle, với tâm tư (cor percevens) của thánh Augustin, tâm thông (unio mystica) của Ðại sư Eckhart và thánh nữ Theresa (thành Avilla), và tâm luận (la raison du coeur) của Blaise Pascal.

2.4. Triết học và Khoa học

Thứ ba, triết học truy nguyên vấn nạn, và đi tìm giải đáp một cách nguyên lý (thực dụng luận, phương pháp luận). Song để nhận ra được vấn nạn, cũng như để khám phá ra giải đáp hữu hiệu, triết học trước hết phải là một tri thức chính xác (exact), phổ quát (universal) và tất yếu (necessary). Nói cách khác, triết học phải là một môn khoa học tương tự như toán học. Nơi đây, vai trò của triết học bao gồm: (1) nhận thức, xắp xếp các dữ kiện (kinh nghiệm); (2) hệ thống, và (3) đưa ra giả thuyết (tri thức), để rồi (4) chứng minh xác thực tính, phổ quát tính và tất yếu tính của tri thức đó. Không cần phải nói, triết học cận đại (modern philosophy) được khởi xướng bởi những nhà khoa học - Bacon, Descartes là những nhà toán học, hay vật lý học - và gây ra một ảnh hưởng sâu rộng, đến độ gần như bá chủ võ đài triết học. Tính chất bá đạo đồng hóa triết học với triết học khoa học, tri thức với phương pháp khoa học được giới triết gia khoa học như Bertrand Russell, Alfred North Whitehead, Ludwig Wittgenstein, Kurt Gòdel phát triển dưới danh nghĩa của một nền triết học phân tích (analytic philosophy). Các triết gia tại các đại học thời danh ở Mỹ và Anh phát triển triết học phân tích cho đến cao độ với những bộ môn luận lý và triết học ngôn ngữ.

Nếu hiểu triết học như một nền khoa học chắc chắn, và trong mạch nguồn của triết học phân tích, triết đông bị gạt bỏ không được nhận là một nền triết học. Thực vậy, ngay cả những lối suy tư tương đối chặt chẽ của Công Tôn Long, hay trong luận lý của Nargajuna, hay của trường phái lý học của Vương Dương Minh, chúng ta cũng không thấy một phương thế khoa học như chúng tôi đã diễn tả ở đoạn trên. Ðây cũng có thể là một nguyên nhân giải thích sự lạc hậu trong lãnh vực khoa học của Trung Hoa và Ấn Ðộ. Song ngược lại, chúng ta cũng có thể nói, chính vì sự tiến bộ chậm chạp trong lãnh vực khoa học mà sau thời vàng son của Xuân Thu (722-481 B.C.), triết học đông phương đã không có chi đặc sắc. Song cho rằng đông phương không có khoa học là một lối nhìn hoàn toàn sai lầm, xuất phát từ sự hiểu sai hay hiểu khoa học một cách hạn hẹp.

Song, nếu triết học đồng nghĩa với khoa học; hoặc nếu triết học chỉ là con sen của khoa học, thì triết học tự đánh mất lý do hiện hữu của mình. Và bi thảm hơn, như chính các nhà khoa học đã từng cảnh cáo, không có triết học như một tấm gương phản ảnh, khoa học sẽ mù quáng rơi vào hố của tự diệt. Vậy thì, triết học giữ vai trò gì trong một thế giới khoa học ngày nay? Như chúng tôi đã nhắc phớt qua, triết học là một sự phản tỉnh về chính khoa học, về phương pháp của khoa học, về mục đích và ý nghĩa của nó. Và để xác định vai trò, ý nghĩa cũng như giá trị của khoa học, triết học bắt buộc phải thảo luận về lý do hiện hữu của khoa học, tức về chính thế giới cũng như những nhu cầu, vấn nạn... của con người. Chỉ trong mạch văn này mà những nhà khoa học vĩ đại như Newton, Leibmiz, (Henri) Poincaré, và Einstein đã có thể tự hào là triết gia.

2.5. Triết học và ngôn ngữ

Ðể hiểu thế sinh, để nắm vững những vấn nạn, và để đánh giá trị, con người phải suy tư về cách biểu tả thế sinh, vấn nạn, giá trị; đó chính là lý do của sự hiện hữu của một nền triết học ngôn ngữ. Nói cách khác, để có thể phản tư, triết học cần phương tiện (phương thế) cũng như đối tượng để phản tư. Một trong những phương tiện đó, chính là ngôn ngữ. Thực thế, nếu không có ngôn ngữ, nếu không dựa vào thế sinh, triết học sẽ bất lực. Chính vì vậy, với Wittgenstein, triết học phải là một môn suy tư chắc chắn, đó chính là luận lý. Mà luận lý không thể tự hư vô, song được kiến cấu theo mô hình của ngôn ngữ. Nói tóm lại, để hiểu triết học, phải hiểu ngôn ngữ. Do vậy, ngôn ngữ chính là đối tượng của triết học. Nó đại biểu và đồng hóa với chính cái chủ thể đương tư duy. Cái nhìn của Wittgenstein được rất nhiều triết gia chấp nhận. Do đó, chúng ta có thể nói, triết học thế kỷ 20 đã hướng về ngôn ngữ, coi nó như là chìa khóa mở toang cánh cửa để phát hiện những bí mật huyền nhiệm của vũ trụ và con người. Song cũng chính vì tầm quan trọng của ngôn ngữ mà các triết gia ngôn ngữ học đi quá đà, cho rằng tất cả mọi vấn đề của triết học chỉ là những vấn đề của ngôn ngữ. Phải thực tâm mà nói, vai trò của ngôn ngữ rất quan trọng. Nó phản ảnh lối suy tư, hình thái, tâm linh cũng như cơ cấu của con người và xã hội một cách trung thực hơn. Một các gián tiếp, nó chứng minh rằng, lối suy tư dựa trên mô hình của khoa học tự nhiên không vững chãi. Và như thế, triết học ngôn ngữ có tham vọng thay thế triết học khoa học trong khoa học xã hội và nhân văn.

Trong triết đông, không phải chúng ta không để ý đến ngôn ngữ. Thuyết chính danh của Nho học, ngôn ngữ như là biểu tượng trong triết học Trương Tử, và ngay cả lối chơi chữ trong văn chương Việt đều là một "loại" triết học ngôn ngữ. Song phải thực tâm công nhận, các triết gia đông phương vẫn chưa chú trọng đến lãnh vực này cho đủ. Riêng tại Việt Nam gần đây, những tác phẩm về triết học ngôn ngữ vẫn còn qúa ít ỏi, có thể nói gần như vắng bóng.

2.6. Triết học và ý nghĩa cuộc sống

Nếu triết học phải quan tâm đến ngôn ngữ, mà nếu ngôn ngữ cũng chỉ là một công cụ của nhân sinh, vậy thì tại sao không thể nói được, triết học là môn học về chính nhân sinh? Từ Khổng Tử, Lão Tử cho tới giới nho gia tại Việt Nam, triết học là môn học truy tầm ý nghĩa của nhân sinh, và hoàn tất lý tưởng đó. Khi Khổng Tử coi con người quân tử như "kỳ hành kỷ dã cung, kỳ sự thượng dã kính, kỳ dưỡng dân dã huệ, kỳ sử dân dã nghĩa." Khi những người theo ngài đều chấp nhận nhân nghĩa lễ trí tín như là những đức tính làm con người xứng đáng là con người, họ đã coi triết học là môn học về nhân sinh, về sự sống, và về giá trị của con người. Trong Việt triết, chủ thuyết nhân bản, cũng như khái niệm về ý nghĩa của cuộc sống càng được nhấn mạnh một cách đặc biệt. Những triết gia quan trọng nhất, từ Nguyễn Trãi tới Nguyễn Công Trứ, từ Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông tới Nguyễn Du, từ thời Nguyên Nho tới các nhà nho gần đây như Cao Bá Quát... tất cả đều chú trọng đến vấn đề nhân sinh, ý nghĩa cuộc đời và cách sống làm người. Trong triết học Tây phương, không phải họ không chú ý tới ý nghĩa cuộc đời, song thường ý nghĩa cuộc đời bị gắn liền với những lý tưởng như chân, thiện, mỹ hay thánh. Socrates trọng chân, trong khi Aristotle trọng cả chân, thiện lẫn mỹ. Sau thời thuyết Tân Plato, và bị ảnh hưởng của Kitô giáo, người ta coi thánh như cội nguồn của chân, thiện, mỹ. Lối nhìn trên rất đúng, song lại quá lý tưởng cho đến độ thiếu thực tế, và do đó không thể thực hiện. Chúng ta phải đợi đến thời kỳ Phục Hưng (Renaissance), phần nào giá trị của con người được định lại theo chính cuộc sống của họ. Khi thi hào Alghieri Dante cho nhân vật chính của ông chọn lựa con người, từ chối thế giới thần linh, cả thiên đàng lẫn hỏa ngục; khi những nhà nghệ sỹ giám nói lên cái đẹp của thân xác, của thế giới cảm quan... họ đã làm một cuộc cách mạng bắt chúng ta phải suy tư ý nghĩa của cuộc sống không theo bảng giá trị của chân, thiện, thánh, song theo mỹ cảm. Lẽ tất nhiên, một lối triết học như thế đã gây ra một nền triết học nhân sinh, mà con đẻ của nó, triết học hiện sinh (existentialism) đã đi quá xa. Một khi những người như Jean-Paul Sartre, Albert Camus... chỉ nhìn triết học theo ý nghĩa của cuộc sống hiện thời, hiện thế; và một khi họ từ khước tất cả mọi lý tưởng cao đẹp, thì cuộc sống biến thành một hiện sinh vô nghĩa. Triết học biến thành một triết học của phi lý (camus), của vô nghĩa (Sartre), của một bi hài kịch (Ortega y Gasset). Song nếu coi ý nghĩa cuộc đời như là hữu thể tự thân (Heidegger), hay như là Ðấng Siêu Việt (Karl Jaspers), hay là một huyền nhiệm (Mystère de l'être theo Gabriel Marcel), triết học hiện sinh chỉ lập lại qua ngôn ngữ hiện đại những luận đề của Chân, Thiện, Mỹ và Thánh mà Soren Kierkegaard đã tuyệt đối hóa, hay Friedrich Nietzsche đã hư vô hóa.

2.7. Triết học, chân lý và luận lý

Một trọng điểm khác mà triết học luôn đeo đuổi, đó là câu hỏi về chân lý: chân lý là gì? Làm thế nào để chứng minh chân lý? Làm sao để có được chân lý? và các câu hỏi tương tự. Triết học Tây phương, từ Socrates và nhất là sau Descartes và Kant, gần như bỏ quá nhiều thì giờ và nhân lực để phát triển các phương thế và phương pháp để đạt, để chứng minh, và để phát triển chân lý. Luận lý (logic) là một trong những phương thế được chú trọng đến nhiều nhất. Từ biện chứng trong Plato, tới luận lý hình thức (tam đoạn luận) của Aristotle. Từ những phát triển về những quy luật của luận lý hình thức trong triết học của Ockham và Duns Scotus cho tới Descartes, và từ Descartes cho tới nay, chúng ta thấy luận lý tiến bộ rất xa. Song sự tiến bộ này nhờ vào sự khám phá ra bản chất của luận lý chính là toán học. Từ đây, các kỹ thuật và các phương pháp lần lượt được phát hiện, hoàn toàn dựa theo toán học. Chúng ta phải đợi tới thời Russell và nhất là Wittgenstein, mới thấy một quan niệm mới xuất hiện. Ðó là sự việc Russell đảo lộn quan niệm của Descartes, coi luận lý mới là nền tảng của toán học. Wittgenstein đi xa hơn nữa, cho ngôn ngữ mới chính là nền tảng của luận lý và toán học. Nói cách khác, để chứng minh chân lý, chúng ta phải bắt đầu từ ngôn ngữ chứ không phải toán học hay khoa học tự nhiên. Vào năm 1931 Kurt Gòdel làm một cuộc cách mạng cực đoan hơn nữa. Ông chứng minh toán học, và luận lý không phải là tuyệt đối. Bất cứ một mệnh đề toán học nào, cho dù vững đủ nhất, cũng không thể đưa ra một chân lý toàn vẹn. Sau Gòdel, các nhà toán học và luận lý học phải chấp nhận là phương pháp định lý (axiomatic method) tự nó đã có những hạn chế nội tại và liên hoàn, mặc dù những giới hạn này có thể chuyển biến vào trong các hệ thống khác. Như vậy, để chứng minh chân lý, con người phải làm một cuộc cách mạng kiểu Copernig, đảo ngược lối nhìn về chân lý: chân lý có phải đồng nghĩa với duy nhất, độc nhất, đồng tính, đồng thể hay không? Hay là chân lý cũng vô định và vô hạn (apeiron) như Anaximander (610-546 B.C.) từng nhận xét? Hay là chân lý đúng là "vô thường đạo" theo quan niệm của Lão Tử?

2.8. Triết học và lịch sử

Theo Hegel, triết học còn nhắm vào một mục đích xa hơn, và cao quý hơn. Ðó là, giống như thiên văn và vật lý, triết học phải mở toang cánh cửa huyền bí của vũ trụ và nhân linh để "mặc khải" cho con người. Giống như Newton, người đã từng xác định được luật của trái đất, Hegel có tham vọng muốn khám phá ra cái định luật của con người, mà theo đó con người phát hiện ra sao, phát triển như thế nào, và làm thế nào đạt tới cùng đích. Hegel khám phá ra một đinh luật, mà triết gia vĩ đại này gọi là cái luật của tinh thần từng biểu hiện trong thế giới hiện tượng. Nói cách khác, triết học như là một luận lý của lịch sử nhân loại giúp chúng ta phát hiện tinh thần tuyệt đối. Bản thể của triết học chính là lý tính và là động lực, trong khi tinh thần tuyệt đối mới là cùng đích. Một lối lịch sử duy linh như vậy, lẽ tất nhiên không giải thích được những dữ kiện cụ thể và thế giới thực tiễn của vạn vật và con người. Charles Darwin chứng minh ngược lại, lịch sử của con người không phải là duy linh sử, và cái luận lý giải thích sự tiến hóa của con người không theo nguyên lý của lý tính, song qua sự chọn lựa - nhiều khi bất ngờ, không theo một luật lệ nào (selection by accident,) - và bằng phương thế đấu tranh để sống (struggle for life). Tương tự Marx cũng nhận thấy Hegel đi lộn đường. Hay nói cho rõ hơn, Hegel đảo lộn cái luận lý, và ngó gà ra quạ, nhận đinh sai lầm về bản chất của lịch sử: bản chất của lịch sử không phải là lý tính, song chính là cái động lực làm con người sinh tồn và phát triển, đó chính là lao động. Song tuy cho rằng Hegel đảo điên trật tự, Marx vẫn chấp nhận triết học lịch sử của Hegel. Ðối với nhà đại học giả Marx, lịch sử phải tiến về một cùng đích, đó là một xã hội thực tế song tuyệt đối, và cái động tính chính là lao động. Luận lý của lịch sử, giống như Hegel, là một quá trình biện chứng. Ðưa ra ba người đại biểu, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến một điều, đó là triết học có thể nói lên được lịch sử của con người, và ngược lại, trong bất cứ nền lịch sử nào của con người cũng có một hay nhiều nền triết học. Như vậy, chúng ta có thể quả quyết mà không sợ sai, đó là trong lịch sử của Việt tộc, của Việt Nam, chắc hẳn phải có những nguyên lý, nguyên tắc (hay đinh luật), trật tự, lý tưởng, cùng đích... giúp chúng ta sống còn trong cuộc đấu tranh hàng ngàn năm, và giúp chúng ta tổ chức cũng như phát triển. Vậy thì, chúng ta cần phải đào sâu vào trong lịch sử để tìm ra những luật, trật tự, nguyên lý, cùng đích chung của nguời Việt và nước Việt. Nói như Hegel, chúng ta phải khám phá ra tinh thần Việt (Việt linh), ra lối suy tư, lối sống, lối hành động (Việt lý)... trong Việt sử, Việt ngữ, Việt hóa, Việt văn...

2.9. Triết học và xã hội

Một số triết gia có lẽ quá ngây thơ, cho rằng triết học chỉ là những suy tư trừu tượng, khó hiểu. Và để chứng minh mình là triết gia, họ phải nặn óc viết ra những câu văn mà không ai hiểu. Hình như triết học hoàn toàn tách biệt xã hội, con người và cả với thế giới mà triết gia đương sống. Một lối nhìn như vậy về triết học hoàn toàn sai lầm và tai hại. Thực ra, bất cứ nền triết học nào, tự bản chất, đều là triết lý xã hội. Nho đạo thực ra là những suy tư về xã hội, và những nguyên tắc đạo lý nhắm giải quyết những vấn nạn của con người, đặc biệt những vấn nạn thời Xuân Thu. Khổng Tử không thích trừu tượng, bởi lẽ ngài nhận ra sự cấp bách của vấn đề con người xã hội. Thế nên sự việc ngài chú trọng tới giáo dục, không phải vì một lý do nào khác ngoài việc giải quyết vấn nạn nhân sinh. Lẽ tất nhiên, ngày hôm nay, chúng ta không thể chối bỏ được sự kiện là, triết học nói chung đều là triết lý xã hội, nhất là sau thời của Rousseau và Montesquieu. Với ảnh hưởng của Marx, bất cứ triết học nào tách biệt khỏi con người xã hội chỉ là một nền triết học "tư biện," "tư sản" và "ý hệ."

Hoặc là chúng ta không hẳn đồng ý với nhà bác học cực đoan này. Song một điểm mà chúng ta bắt buộc phải chia sẻ với Marx, đó là nếu linh hồn của triết học là con người siêu việt, thì yếu tính của triết học phải là con người xã hội. Hiểu theo nghĩa này, chúng ta trở lại Việt triết. Chúng tôi mạn nghĩ, Việt triết mang tích cách tư biện thì ít song xã hội tính thì nhiều. Lý do rất dễ hiểu, đó là lịch sử của cuộc chiến đấu sống còn; và phương thế tồn tại không thể ỷ lai vào vũ lực như những người xâm lăng từ phương Bắc, hay phương Tây, song vào thiên thời, địa lợi và nhất là nhân hòa. Tư tưởng của Trần Hưng Ðạo, của Nguyễn Trãi và cả của Nguyễn Huệ đều tập trung vào mục đích sinh tồn, và phương thế hay chiến lược của các ngài đều dựa theo nguyên lý thiên thời địa lợi nhân hòa này. Tương tự, những nền triết học dân gian thấy trong phong tục, tập quán từ phong thủy, địa lý, tới y học và kiến trúc cũng dựa trên nguyên lý thiên thời địa lợi và nhân hòa này. Chúng ta có thể nói mà không sợ quá đáng, đó là, nền triết lý tam tài của người Việt, trước hết, là một nền triết học xã hội, và sau đó mới là một nền siêu hình. Lối suy tư này đi ngược lại với kiểu suy tư của truyền thống Hy-La và Tây phương hiện đại.

2.10. Triết học, văn hóa, nghệ thuật

Chúng ta cũng biết là triết học không thể tách biệt khỏi văn hóa, và nhất là nghệ thuật. Không phải vô cớ mà Kant muốn xây dựng một nền triết học thẩm mỹ. Plato cũng không phải không có lý khi triết gia cho cảnh vực cao nhất của tư biện là cảnh vực của thẩm mỹ (kalos). Hegel xác định vai trò của thẩm mỹ như là một sự biểu hiện của lý tính. Lý do mà các nhà đại triết gia này chú ý tới nghệ thuật và văn hóa, chính bởi vì nghệ thuật tự nó là một hành vi sáng tạo. Nói cách khác, nghệ thuật là một hành động triết học, truy nguyên chân lý, và sáng tạo thế giới. Song mặc dù nghệ thuật và văn hóa luôn được nhắc tới, chúng chỉ được coi như một bộ môn triết học vào thế kỷ 19, đặc biệt trong tác phẩm của Wilhelm Dilthey. Tuy vậy, các triết gia văn hóa vẫn chưa hẳn chú trọng đến các nền văn hóa khác. Mà nếu có để ý đến, họ vẫn quá tin một cách mù quáng vào nền văn hóa Tây phương. Chỉ có một số rất ít người nhận ra sự mù quáng vào văn hóa Tây phương này mà thôi. Oswald Spengler chắc hẳn không hoàn toàn đúng khi ông tiên đoán sự suy sụp của nền văn hóa Tây phương, song lối nhìn của ông đã làm thức tỉnh các nhà học giả Á châu, và khiến người Tây phương chú ý tới các nền văn hóa khác. Vào những năm gần đây, khi những con rồng Á châu trỗi dậy, người ta càng chú trọng nền văn hóa Á châu. Thế nên, Fukujama, một học giả Nhật tại Harvard, tuy có lẽ chỉ lập lại cùng một luận điệu như Spengler, nhưng đã gây được một tiếng vang đáng kể. Thực ra, không phải Spengler, nhưng là các nhà nhân chủng và khảo cổ học có lẽ có công hơn cả khi họ khám phá ra rằng những nền văn hóa mà người Âu cho là man di mọi rợ, thực ra chẳng có man dã hay nguyên sơ. Lối suy tư của họ cũng lý luận (logical) không kém chúng ta. Lối suy tư và tổ chức của họ rất chính xác và chắc chắn, rập theo một mẫu giống như toán học; ngôn ngữ của họ theo một cấu kết rất có lý; và văn hóa của họ cao sang. Nói tóm lại, văn hóa Á châu cũng như các nền văn hóa ngoài Âu châu đã phục hồi phần nào giá trị mà họ phải có.

Lẽ tất nhiên, chúng tôi không đồng ý với thái độ kênh kiệu của Tây phương, song cũng không thể chia sẻ sự bi quan của họ về chính văn hóa của mình. Bởi lẽ, văn hóa không thể tách biệt khỏi thế sinh. Văn hóa là kết tinh của sức sống, lối sống, tinh thần sống... của tộc, của giống, của nòi. Nếu hiểu như vậy, triết Ðông có thể nói mà không sợ bị cười, là một nền triết học văn hóa. Nó nói lên sức sống, đạo sống, và, đạo dưỡng sinh, phát sinh và trường sinh. Trong nền thẩm mỹ của Ðạo học chúng ta thấy nghệ thuật sáng tạo được coi như là một nền minh triết. Nó biểu tượng cho văn hóa phát sinh và trường sinh. Với Khổng Tử, ngài chú trọng đến lối sống, đạo sống. Nền văn hóa Nho này biểu tả một quá trình của con người đương sống, tìm cách sống và giữ gìn sự sống. Ðó là văn hóa xây dựng trên đạo nhân. Văn hóa Việt bao gồm cả Nho đạo, Ðạo học và Phật đạo. Vậy thì Việt triết là một nền triết học bao gồm các đạo trên, cũng như những đạo cá biệt của mình. Nó được diễn đạt và phát hiện qua các nền đạo giáo này và những lối sống đặc thù khác của dân Việt.

2.11. Khi triết học làm cách mạng

Nếu Socrates đã từng chết để bảo vệ chân lý; nếu Plato đã từng bị bắt làm nô lệ chỉ vì ông muốn hoàn tất lý tưởng "cộng hòa"; nếu triết học của Aristotle đã từng ảnh hưởng Alexander Ðại Ðế trong giấc mộng đế quốc, thì chúng ta phải nói, triết học luôn gắn liền với phương thế trị quốc bình thiên hạ. Nếu Khổng Tử đề nghị tu thân, thì Tuân Tử lại đề nghị kiêm ái như là một phương thế để trị dân. Nếu Hàn Phi ca tụng luật pháp thì Mạnh Tử lại đề nghị thân dân. Song nói một cách chung, các lý thuyết triết học của Ðông và Tây có một đôi chút khác biệt: đó là, triết đông chú trọng đến hành chánh, bảo vệ và hoàn thiện con người và xã hội, song triết Tây lại chú trọng đến vai trò phê bình, cách mạng và tiên tri. Chính vì vậy mà các nền triết học Ðông phương dễ biến thành ý hệ, và các triết gia của họ thường là những người nắm quyền, nhất là từ thời Tống trở về sau. Trong đoạn này, chúng tôi muốn nói đến vai trò tiên tri, và cách mạng của triết học. Lẽ tất nhiên, chúng tôi không hoàn toàn phủ nhận công năng của triết học như là một công cụ hành chánh, điều hành, giữ trật tự. Song chúng tôi nhận định rằng, nếu chỉ có như vậy, triết học sẽ mất lý do tồn tại, và biến thành một nền ý hệ, hay một hệ thống pháp luật và đạo đức. Sự khác biệt giữa triết học và triết lý thực hành nằm ở điểm triết học luôn phản tỉnh về chính mình, về thế giới, về bất cứ một hệ thống, kết cấu hay cơ cấu nào... trong khi triết lý thực hành chỉ chú trọng đến khía cạnh thực dụng. Vậy thì, bất cứ một nền triết học thuần túy nào cũng phải giữ vai trò tiên tri, và cách mạng. Ðó là một triết học đi trước dẫn đường, chứ không phải một ý hệ, tức một triết lý đi sau nhắm giải thích, và củng cố quyền lực. Ðể được như vậy, theo Marx, triết học phải có hai yếu tố: triết học là một sự phê bình liên tục tình trạng hiện tại phi lý, thiếu thực tế, sai lầm, vô hiệu quả, vân vân; triết học cũng là một sự đòi buộc cải đổi xã hội một cách toàn diện.

Trong Việt triết, tuy hầu như tất cả các tư tưởng đều vòng quanh hai công năng: bảo vệ dân tộc, và phát huy ý nghĩa của cuộc sống; chúng ta hầu như không thấy một cách rõ rệt một nền triết học gọi là cách mạng. Mặc dù trong tư tưởng của Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ, chúng ta nhận thấy khá nhiều phê bình, và đề nghị đổi mới, song triết học của họ không mang tính chất tiên tri hay phê phạm theo đúng nghĩa. Ngay cả những phê bình của những nhà Tây học như nhóm Tự Lực Văn Ðoàn cũng chưa nói lên được tính chất tiên tri và cách mạng của triết học. Họ chỉ dựa vào một bảng giá trị (tây phương), để phê bình bảng giá trị cũ, nhưng không thể đưa ra nguyên lý hướng dẫn phê bình, cải tổ xã hội hay phát triển tri thức. Ngược lại, họ mù quáng chạy theo những bảng giá trị mới, hoàn toàn ngoại lai. Một thái độ như vậy tự biểu lộ sự bất lực của họ trong suy tư, và như thế, đi ngược lại với bản chất của triết học. Nó nói lên thái độ ấu trĩ của nền triết học bị Voltaire, Rousseau, Herder, Lessing, Mendessohn từng phê bình.

2.12. Khi triết học phục vụ: Công cụ tính

Những triết gia phái thực dụng (pragmatism) cho rằng, triết học chỉ có giá trị, nếu nó phát sinh ra giá trị thực dụng. Chúng tôi không hẳn phản đối, song cần phải minh định nơi đây về công năng của triết học. Trong đoạn trên, chúng tôi cố ý phân biệt triết học thuần túy ra khỏi triết lý áp dụng (applied philosophy). Nơi đây, chúng tôi xin được nói thêm. Triết học thuần túy tự nó đã là mục đích của nghiên cứu. Nó không thể tách rời khỏi sự khôn ngoan, bởi vì bản thể của triết học chính là sự khôn ngoan. Ngược lại, triết lý áp dụng mang thêm tính chất công cụ. Nó được chú ý nhờ tính chất thực dụng của mình. Nó được quý trọng hay bị bỏ rơi cũng tùy theo kết quả của tính chất công cụ mà thôi. Hiểu theo nghĩa này, nền triết học hiện đại thực ra chỉ là các nền triết lý áp dụng. Các triết gia dùng triết học để hiểu con người, xã hội. Các triết gia phát minh các phương pháp triết học để chứng minh chân lý; để xây dựng một quan niệm công bằng; để không sai lầm khi suy tư, khi tranh luận... Nói tóm lại, triết học bị hạ cấp xuống thành phương pháp luận, thành môn luận lý (logic), thành biện chứng pháp. Những người có công nhất với sự phát triển công cụ tính của triết lý lẽ tất nhiên không có ai hơn Descartes và Locke. Hai ông đã đưa công cụ tính lên hàng triết học; hay nói cách khác, hai ông đã hạ cấp siêu hình học xuống hàng tri thức luận, và tri thức luận lại bị giản lược vào công cụ tính, tức phương pháp luận.

Thực vậy, triết học ngày nay không còn phân biệt và cũng không được phép phân biệt khỏi triết lý thực hành. Bởi vì bất cứ một tri thức (savoir), hay nhận thức nào (connaissance) cũng bắt buộc phải được tái dựng (reconstructed) trên nền tảng của thế sinh. Tách rời khỏi thế sinh, triết học, hay tri thức thuần nhất sẽ tự đánh mất cái giá trị hiện hữu của nó. Song không phải vì thế mà chúng ta có quyền giản lược triết học vào trong công cụ tính của nó. Bởi lẽ, như một công cụ tính, triết học không còn là mục đích, song chỉ là phương thế. Và như là một phương thế, hay thủ đoạn, triết học tự đánh mất chính tư duy; mà tư duy mới chính là bản thể của triết học. Ðây là một lý do mà Heidegger đã phê bình cả hai nền triết học tư biện (speculative) từ Plato cho tới Nietzsche và ý hệ kỹ khoa một cách dữ dội, khi ông đổ tội hai nền triết học này đã rơi vào cái hố thẳm của bất tư, đánh mất khả năng suy nghĩ. Sự bất lực càng rõ ràng hơn khi triết học tự đồng hóa mình với công cụ tính. Chúng tôi không quá bi quan như ông. Bởi lẽ, một nền triết học thuần túy không thể có, y hệt như một nền tri thức thuần túy không thể hiện hữu. Triết học và triết lý gắn chặt với nhau. Nếu triết học đòi tự phản tỉnh, thì triết lý là một phản tỉnh về triết học trong thế sinh, trong xã hội con người, trong sinh hoạt, trong tương quan... của con người. Ðể phản tỉnh, để nhận thức, để phê phạm, để đánh giá trị, triết học bắt buộc phải dùng chính nguyên lý triết học, tức chính sự khôn ngoan. Vậy thì, chúng ta không thể chối bỏ công cụ tính của triết học được. Song chúng ta cũng không được phép coi công cụ tính như là triết học trong toàn thể tính của nó.

2.13. Triết học và tôn giáo

Sau cùng, triết học không phải là một tri thức tuyệt đối, càng không phải là Ðấng Tuyệt Ðối. Nói theo Karl Jaspers, triết học cũng là một sự thao thức về chính định mệnh, về tuyệt đối, về hư vô. Song triết học tôn giáo không phải là tôn giáo, bởi lẽ chân lý trong triết học có thể chứng minh và thực nghiệm, song trong tôn giáo, chỉ có thể cảm nghiệm. Bất cứ chứng minh nào về huyền nhiệm, về thế giới thần linh, về cảm nghiệm tôn giáo cũng không thể phổ quát hóa. Nếu áp dụng phương pháp khoa học, hay luận lý triết học vào tôn giáo, chúng ta rất dễ dàng thất vọng. Song tuy không thể chứng minh theo khoa học, chúng ta cũng không thể gạt bỏ được tôn giáo. Nơi đây, chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh một điểm, đó là tuy tôn giáo không phải là triết học, song le trong bất cứ tôn giáo nào cũng có những triết lý, hay đạo lý. Chính những triết lý, hay đạo lý này là trọng tâm của triết học tôn giáo. Vậy thì, chúng ta có thể nói là triết học tôn giáo là một sự truy nguyên đạo lý bằng phương pháp triết học. Sự tương quan giữa triết học và tôn giáo giống như sự tương quan giữa triết học và khoa học. Triết học là một phương thế làm chúng ta phát hiện ý nghĩa của tôn giáo một cách minh bạch hiển nhiên. Hiểu theo nghĩa này, triết học tôn giáo là một môn triết học phổ quát và quan trọng của Ðông phương, và của Việt Nam. Chúng ta có thể nói mà không sợ quá đáng, đó là Việt triết tự bản chất là một môn triết học tôn giáo, tông giáo và ý hệ. Chính vì vậy mà nhiệm vụ của chúng ta là dùng lối suy tư, phê bình và phương pháp triết học để làm tôn giáo càng sáng tỏ, hay càng dễ hiểu, càng có hiệu quả hơn và nhất là để chúng ta có thể nhận ra sự khác biệt giữa nền tôn giáo chân thật, và tôn giáo ý hệ. Nơi đây, chúng ta cần phải giải thích qua về tính chất của tôn giáo Việt. Theo quan điểm riêng tư của chúng tôi, tôn giáo Việt bao gồm ba đặc tính: (1) đó là một tông giáo; (2) đó là một đạo lý (luân lý và đạo đức); và (3) đó là một ý hệ. Là một tông giáo, tôn giáo Việt được xây trên cái đạo (giáo huấn) của tổ tông nối lại cho con cháu bao gồm (a) giữ gìn và phát triển dòng giống, (b) giữ gìn quy tắc, gia phả để "tề gia", giữ đạo cương thường, và (3) niềm tin vào sự hiện diện trong tinh anh của tổ tiên. Do đó, cúng bái tổ tiên, giỗ ông bà, cha mẹ hay trọng ruột thịt (một giọt máu đào hơn ao nước lã) nói lên cái đạo tổ tông này. Là một đạo lý, tôn giáo Việt là một hệ thống của luân lý và đạo đức gia đình. Giử lề giữ nếp, hiếu cha thảo mẹ, kính anh nhường em... là những quy tắc của tôn giáo Việt. Là một ý hệ, tôn giáo Việt tự đồng hóa với tư tưởng, lối sống, nền đạo đức, và tổ chức chính trị của đất nước và nhà nước, hay quốc gia, tức nước và nhà. Thế nên tôn thờ tổ Hùng Vương, cúng bái Thánh Gióng, thờ lạy Hai Bà Trưng, hoặc tôn vinh vị anh hùng cứu nước Trần Hưng Ðạo lên bậc Thánh nhân, kính trọng liệt sỹ, vân vân, tất cả nói lên một nền ý hệ, tức chủ nghĩa ái quốc với cái bảng giá trị của nó.

Tạm kết

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày triết học không theo một khuôn mẫu cố định, cũng không hề đưa ra một định nghĩa nào về triết học. Như độc giả đã nhận ra, chương này chỉ có một mục đích, đó là chứng minh một cách gián tiếp khả thể của một nền Việt triết. Chúng tôi áp dụng chiến thuật vừa phê bình, vừa xác định. Thứ nhất, qua việc phê bình những sai lầm về triết học, chúng tôi muốn nói đến sự việc triết học không bị hạn hẹp vào một lối nhìn, một cách suy tư, hay một cuộc sống cố định. Và như thế, cái nhãn quan hạn hẹp bản vị, ý hệ cũng như tâm lý tự cao tự đại thiếu thẩm quyền, thiếu lý do để gạt bỏ những nền triết học khác với quan điểm của họ. Thứ tới, qua việc xác định các chiều hướng triết học, chúng ta có thể nhận ra chỗ đứng, cũng như khuynh hướng của Việt triết. Nếu triết học không tự hạn hẹp vào bất cứ một lãnh vực nào; nếu sự khôn ngoan luôn luôn biến hóa, và biểu hiện trong tất cả mọi sinh họat của nhân sinh, thì bất cứ một nền triết học nào cũng là những suy tư, biểu hiện, hay hoàn thành sự khôn ngoan ấy. Trong một mạch văn như vậy, chúng ta có thể xác quyết là Việt triết là sự biểu hiện, sự hoàn thành và sự hiện diện của tính khôn ngoan của người Việt. Nói một cách chung, Việt triết là một nền triết học nhân sinh do người Việt, cho người Việt và qua người Việt. Trong chương sau, chúng tôi sẽ tiến thêm một bước, phân tích bản chất cũng như đặc tính của Việt triết. Qua cách này, chúng ta có thể chứng minh một cách khách quan sự hiện hữu của một nền Việt triết.

Tân Trúc, Ðài Loan, Tết Canh Thìn 2000

Luận lý khí của Lê Quý Đôn

Tác giả: Lâm Nguyệt Huệ

I. Sự hưng thịnh của Nho học Việt Nam và Lê Quý Đôn thời Hậu Lê

Nho học vốn là truyền thống của văn hoá Trung Quốc, nó có ảnh hưởng sâu sắc đối với dân tộc Hoa Hạ. Nhưng từ sau thế kỷ XII - XIII, Tân Nho học Tống Minh (Neo-Confucianism), còn gọi là lý học Tống Minh, được khởi nguồn từ Trung Quốc, không chỉ là dòng chảy văn hoá, nghệ thuật chính của Trung Quốc, mà thậm chí còn mở rộng sang cả các nước xung quanh, trở thành biểu hiện chung của văn minh Đông Á[1], là nguồn tư tưởng chung của dòng văn hoá chữ Hán. Điều đáng chú ý là, sự phát triển của Tân Nho học Tống Minh, nhất là Chu Tử học, đã lan truyền theo hai hướng: Đông và Tây. Hướng phát triển sang phía Đông của Tân Nho học truyền đến Triều Tiên, ảnh hưởng đến thể chế chính trị và tư tưởng văn hoá hơn năm trăm năm (thời kỳ 1392 - 1910), thậm chí đến cả thời Cận đại của Triều Tiên. Cũng theo hướng Đông, Tân Nho học truyền sang cả Nhật Bản và có ảnh hưởng to lớn đối với chính trị, xã hội, văn hoá của Nhật Bản thời đại Đức Xuyên (1600-1868).(1)Một hướng phát triển khác của Tân Nho học là hướng Nam, sang Việt Nam, ảnh hưởng đến thời đại Hậu Lê (1428-1784) và thời nhà Nguyễn (1802-1945) của Việt Nam, tạo ra thời kỳ hưng thịnh của Nho học Việt Nam. Có thể nói, từ sau thế kỷ XV, Tân Nho học (đặc biệt là Chu Tử học) đã có ảnh hưởng to lớn đối với cả Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Xét từ góc độ Nho học Đông Á, việc phát triển sang phía Đông và phía Nam của Tân Nho học không chỉ ăn sâu vào văn hoá của Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, mà còn tạo ra nét đặc trưng khu vực cho Nho học ở ba nước này. Bản thân Nho học cũng chuyển thành mầm văn hoá tiềm tàng và trở thành truyền thống văn hoá quan trọng của ba nước này.

Xét về lịch sử giao lưu với Việt Nam, ngay từ khi Tần Thuỷ Hoàng bình định Lĩnh Nam (năm Thuỷ Hoàng thứ 32, năm 214 TCN.), Tần Thuỷ Hoàng đã thành lập 3 quận là Quế Lâm, Tượng và Nam Hải. Trong đó, quận Tượng chính là Bắc bộ và Trung bộ của Việt Nam. Đây cũng là thời kỳ khởi đầu Trung Quốc thống trị các quận huyện ở Việt Nam. Sau đó, thời kỳ Lưỡng Hán cũng thiết lập sứ bộ Giao Chỉ tại Việt Nam. Thời Tam Quốc, Đông Tấn, Nam Triều thiết lập Giao Châu, đời Đường thiết lập An Nam Đô hộ phủ. Vì thế, cái tên Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam được gọi trong sử sách Trung Quốc chính là Việt Nam. Nói cách khác, từ thời Tần Hán đến cuối đời Đường, Việt Nam có gần 1000 năm là quận huyện của Trung Quốc. Ngày nay, người Việt Nam gọi thời kỳ thống trị quận huyện đó là “thời kỳ Bắc thuộc” hay “thời kỳ đô hộ”.

Từ sau thời nhà Tống, Việt Nam giành được độc lập, tự thành lập vương triều phong kiến của riêng mình, giữ quan hệ “chính quốc và thuộc địa” với Trung Quốc. Tuy vậy, trên thực tế, Việt Nam đã thoát khỏi sự thống trị của Trung Quốc, có lịch sử độc lập, tự chủ của mình. Sau khi độc lập, Việt Nam đã trải qua các triều đại: Đinh (968 - 980), Tiền Lê (980 - 1009), Lý (1010 - 1225), Trần (1225 - 1440) và Hồ (1400 - 1407) - thời gian này vào khoảng đầu triều Minh của Trung Quốc. Sau một thời kỳ ngắn “thuộc Minh” (1414 - 1427), Việt Nam một lần nữa thành lập vương triều mới, đó là thời kỳ Hậu Lê (1428 - 1788). Thời Hậu Lê dài 360 năm, là vương triều dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Năm 1788, Nguyễn Huệ xưng đế, lập nên nhà Tây Sơn (1788 -1802). Sau đó, Nguyễn Phúc Ánh xưng đế, lập nên triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam - triều Nguyễn (1802 - 1945). Cuối thời nhà Nguyễn, dưới sự xâm lược của các thế lực phương Tây, cuối cùng, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp[2].

Nhìn lại toàn bộ lịch sử phong kiến của Việt Nam, chúng ta thấy rằng, phần lớn mọi việc đều áp dụng theo chế độ của Trung Quốc, như thực hiện chế độ khoa cử để chọn hiền tài, lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm nội dung thi cử. Nói chung, sau khi Việt Nam độc lập và lập nên các triều đại thì trong hơn 1000 năm, Nho học cũng đã trải qua quá trình từ thịnh đến suy. Vào thời nhà Lý, mặc dù đã lập Văn Miếu ở thủ đô Thăng Long (1070), tiến hành thi cử (1075), lập Quốc Tử giám (1076), lập Hàn Lâm viện (1086), nhưng đến cuối thời Lý, chế độ khoa thi vẫn ở giai đoạn thử nghiệm ban đầu, việc thi cử vẫn chưa tổ chức theo đúng kỳ hạn. Nói tóm lại, trong thời Lý, mặc dù tam giáo là Nho, Thích, Đạo đều phát triển, song ý thức chủ đạo của vương triều vẫn là Phật giáo, đó mới là dòng chảy tư tưởng văn hoá chủ lưu. Tiếp sau đó, nhà Trần đã lấy tư tưởng Nho gia làm tư tưởng chủ đạo, lập nên một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh, từ trung ương đến địa phương đều thành lập trường học, vừa có trường quan, vừa có trường tư. Chế độ khoa cử của nhà Trần cũng rất chặt chẽ và hoàn thiện, lấy kinh, nghĩa của Nho gia làm nội dung thi cử. Thậm chí, chế độ này còn được dùng trong các triều đại sau đó của Việt Nam. Do sự phát triển của các trường quan, trường tư và chế độ khoa cử, nên tầng lớp Nho sĩ tăng lên, giữ vị trí quan trọng trong triều đình. Điều đó càng thúc đẩy sự lan truyền của Nho học. Thậm chí, vào năm 1370, nhà Trần còn lập bàn thờ Chu Văn An (tự là Linh Triệt, hiệu là Tiều Ẩn) tại Văn Miếu. Điều này đủ cho thấy Nho học khi đó đã chiếm một vị trí tương đối cao. Vì thế, dưới thời nhà Trần, Nho học đã dần giành lấy vị trí chủ đạo.

Trên nền tảng Nho học thời nhà Trần, nhà Hậu Lê không chỉ là triều đại dài nhất của Việt Nam, mà còn là thời kỳ Nho học phát triển rực rỡ nhất, giống như đời nhà Minh, Thanh của Trung Quốc. Các vị vua đều tôn sùng Nho học, lấy Nho học làm tư tưởng chủ đạo để trị dân kiến quốc, lấy Nho học làm cơ sở lý luận để ban hành các loại chế độ điển chương và làm kim hoa ngọc kỹ để quân thần và nhân dân tuân theo. Có lúc, Khổng Tử còn được thần thánh hoá, Nho học dường như được đẩy lên thành quốc giáo. Nho học của Việt Nam thời kỳ này chủ yếu là Tân Nho học Tống Minh, nó không chỉ mang tính tư biện mà còn nhấn mạnh thực tiễn và giáo hoá đạo đức, có vai trò ổn định tích cực cho luân lý cương thường của chính trị và xã hội, nhận được sự ủng hộ của giai cấp thống trị và các nhà Nho. Đặc biệt, nhà Hậu Lê kịch liệt bài xích cực đoan Phật giáo và Đạo giáo, tạo thành cục diện Nho học độc tôn. Chính vì Nho học thời Hậu Lê phát triển mạnh mẽ, nên ở thời này có nhiều nhân tài xuất hiện, trong đó có nhiều nhà Nho nổi tiếng, như Nguyễn Xí (1380 - 1442), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), Phan Phù Tiên, Ngô Sĩ Liên, Lê Quý Đôn (1726 - 1784),… Tất cả họ đều là các bậc đại sư Nho học thời Hậu Lê. Thậm chí, đến thời kỳ đầu và giữa của nhà Nguyễn, Nho học vẫn giữ được sự hưng thịnh, nhất là việc tôn thờ Khổng Tử càng rộ hơn. Nhưng, cùng với sự cứng nhắc của Nho học và những nhược điểm của chế độ khoa cử, chế độ khoa cử kéo dài hơn 800 năm của Việt Nam dần bước vào lãng quên và suy tàn. Cùng với đó, việc thực dân Pháp ra sức tiến hành Latinh hoá tiếng Việt nhằm thay thế chữ Hán và chữ Nôm khiến cho việc người Việt Nam đọc các tác phẩm kinh điển của các nhà Nho cổ càng thêm khó khăn. Thậm chí, họ tỏ ra hoài nghi và phê phán Nho học, có khi còn có ý chống lại tư tưởng của Khổng Tử. Vào cuối thời nhà Nguyễn, Nho học từ thịnh chuyển sang thành suy, dần biến vào trong làn sóng dâng trào của lịch sử Việt Nam[3].

Xét quá trình trên, có thể nói, Nho học thời Hậu Lê là thời kỳ hưng thịnh nhất của Nho học Việt Nam, quan trọng nhất trong sự phát triển của Nho học Việt Nam. Đáng kể là, nhà Hậu Lê rất chú ý đến việc in ấn các tác phẩm kinh điển Nho gia, cho khắc rất nhiều các điển tích Nho gia, như “Tứ thư đại toàn” (năm 1435), đưa “Ngũ kinh đại toàn” vào các trường học. Chế độ khoa cử thời Hậu Lê cũng phát triển hơn trước, hình thành một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh hơn, đào tạo ra nhiều Nho sĩ hơn. Ngoài ra, Lê Thánh Tông còn rất coi trọng đề xướng lễ nghĩa, khuyến khích người “trung, tín, hiếu, đễ”, tham chiếu các luật lệ của Tuỳ Đường, cho ra đời “Bộ luật Hồng Đức”, ban hành “24 lời giáo huấn”, làm cho đạo đức luân lý của Nho gia đi vào mọi ngõ ngách của xã hội. Hơn nữa, tính thực tiễn đạo đức của Tân Nho học Tống Minh cũng được đưa vào hoạt động giáo hoá, phổ cập đến dân gian, thẩm thấu vào mọi giai tầng trong xã hội. Từ đó, có thể thấy, Chu Tử học thời Minh Thanh với tư cách tư tưởng Nho học của quan lại đã có những ảnh hưởng lớn đến nền chính trị, xã hội, văn hoá và học thuật thời Hậu Lê của Việt Nam. Trong số các nhà Nho Việt Nam, Lê Quý Đôn là nhà Nho quan trọng nhất cuối thời Hậu Lê, ông đã lớn lên trong môi trường học thuật của thời kỳ Nho học thịnh vượng đó.

Lê Quý Đôn tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, người huyện Diên Hà, tỉnh Thái Bình. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, từ nhỏ đã thuộc làu kinh điển Nho gia, từ lúc thiếu thời đã đọc tư tưởng bách khoa chi tử, Tứ thư, Ngũ kinh, có vốn Hán học uyên thâm, là một nhà bách khoa toàn thư, được mệnh danh là học giả tập đại thành. Về con đường công danh, năm 27 tuổi, ông đỗ tiến sĩ, vào Hàn Lâm viện nhậm chức Tu toản quốc sử quán, từng giữ các chức vụ Hàn Lâm viện thi giảng, Mật thư các học sĩ, Tham chính Hải Dương. Ông từng hai lần đi sứ Trung Quốc vào các năm 1760 và 1762. Trong thời gian đi sứ tại Trung Quốc, Lê Quý Đôn từng đi thăm Văn Xuyên, tìm hiểu chính trị Trung Quốc, “xem tình hình chính trị của thượng quốc thế nào, con người ra sao”[4]. Hơn thế, ông còn tiếp xúc với nhiều văn trí thức Trung Quốc, gặp gỡ sứ thần Triều Tiên là Hồng Khởi Hỷ (1703 - 1771)[5]. Từ đó, có thể thấy, Lê Quý Đôn là một nhà Nho Việt có tầm nhìn quốc tế và có kinh nghiệm ngoại giao của thời Hậu Lê.

Ngoài hoạt động chính trị rất bận rộn, Lê Quý Đôn còn tập trung vào đọc các tác phẩm văn chương và dạy dỗ môn sinh. Các tác phẩm của ông rất nhiều. Ông là một trong những nhà Nho có nhiều tác phẩm nhất dưới thời phong kiến. Nội dung của những tác phẩm này đề cập đến tất cả các mặt của đời sống, như văn học, triết học, kinh tế, lịch sử,… Các tác phẩm lớn của ông là: Tứ thư lược giải, Thư kinh diễn nghĩa, Vân đài loại ngữ, Quần thư khảo biện, Ngâm trắc văn chú, Thánh mô hiền uyển lục, Kiến văn tiểu lục, Lê triều thông sử, Bắc sứ thông lục, Quế Đường thi tập, Toàn Việt thi học, Hoàng Việt văn hải, v.v.. Lê Quý Đôn được đánh giá rất cao trong giới học thuật Việt Nam đương thời và đương đại. Ví như, học trò của ông là Bùi Bích Tựu đã gọi thầy của mình là “thông minh cái thế, học vấn rộng khắp, đặt bút thành thơ, đáng để hành thế và truyền lại cho đời sau, trong vài trăm người chỉ có một người”[6]. Nhà Nho cuối thời Hậu Lê là Ngô Thì Nhậm cũng khen ngợi Lê Quý Đôn là “văn chương quán thế, tam nguyên cặp đề, nổi tiếng cả hai nước, là lãnh tụ của tư văn”[7]. Ở đây, bài viết không đi sâu vào văn chương và học vấn của Lê Quý Đôn, mà chỉ chọn phần “lý khí” trong Vân đài loại ngữ của ông để tìm hiểu tư duy Chu Tử và nét đặc sắc của tư tưởng ấy ở Lê Quý Đôn.

II. Tư duy Chu Tử trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn

Trong số trước tác của Lê Quý Đôn, không ít cuốn nói đến tư tưởng triết học, trong đó Vân đài loại ngữ là một trước tác triết học quan trọng. Nhiều người trong giới nghiên cứu Trung văn cho rằng, Lê Quý Đôn chịu ảnh hưởng sâu sắc của Chu Tử thời Nam Tống (danh Hy, hiệu Hối Am) và thường lấy sách đó làm nguồn để chú thích[8]. Vân Đài loại ngữ gồm 9 cuốn, phần tự của sách được đề là “Cảnh Hưng Quý Tỵ thu ký vọng”, tức là sách này hoàn thành vào năm 1773. Nhưng, thực tế, việc biên soạn sách đã được tích luỹ qua nhiều năm. Bạn bè của Lê Quý Đôn đã nhận xét về việc biên soạn Vân đài loại ngữ như sau: “Diên hà quý đường Lê công ô thư vô sở bất độc, ô vật vô sở bất cách, bình nhật nghiên đàm sở đắc, tuỳ bút trước thư mãn án (hoặc tác doanh) sương, hữu bất khả đắc nhi đàn thuật, “Vân đài loại ngữ” thử kỳ ưu tuý nhiên giả. Kỳ thư tích vi cưu dật, môn loại tích, nghĩa lý tường. Thượng chí thiên văn, hạ chí địa lý, trung chí nhân sự. Cách chí thành chính chi học, tu tề trị bình chi công, mặc bất ô thị hốt tại”[9].

Trong Vân đài loại ngữ tự tự của Lê Quý Đôn có đoạn: “thưởng độc thái chư truyền kỳ thuyết thoại sự tích, lược gia ẩn quát, hữu cứ ý kiến bình luận, hữu thủ cựu văn soạn nhân, tích cửu thành dật, danh viết “loại ngữ””[10]. Theo đó, cái gọi là “vân đài” dùng để chỉ “án sương” hoặc “danh sương”, nghĩa là thư phòng để các loại sách[11]. Điều đó cho thấy, ngày thường, Lê Quý Đôn sưu tập cổ thư nhiều thế nào. Cuốn Vân đài loại ngữ cũng chính là thành quả của quá trình học hỏi sâu rộng đó của Lê Quý Đôn. Trong Vân đài loại ngữ, ông sử dụng nhiều truyền kỳ, sự tích, có phần trích dẫn nhiều trước tác cổ điển, có phần tự bình luận. Vân đài loại ngữ gồm chín cuốn: lý khí, tượng hình, khu vụ, điển huệ, văn nghệ, âm tự, thư tịch, sĩ quy, phẩm vật. Chín cuốn này có những ý nghĩa riêng, tổng hợp thiên văn, địa lý, nhân sự (nhân văn). Điều đó cũng cho thấy, Lê Quý Đôn biên soạn Vân đài loại ngữ có chủ ý, phản ánh khá rõ khuynh hướng tư duy của ông.

Đáng chú ý là, ngay từ phần lời tựa cuốn sách của Lê Quý Đôn, chúng ta đã có thể thấy rằng, Vân đài loại ngữ dùng quan điểm “cách vật chí tri” của Chu Tử làm nguyên liệu để biên soạn. Lê Quý Đôn giải thích: Cố nhân xưng cách vật chí tri chi học, thôi kỳ hiệu chí ô tu tề trị bình khả vị bác hĩ. Đạo tại sự vật, sự vật hữu đạo. Viễn nhi tế thiên bàn địa, cận nhi nhân vu nhật dụng, hữu kỳ nghĩa yên. Quân tử cố bất dung dĩ bất tri dã. Học dĩ tụ chi, ôn cố nhi tri tân, đôn hậu dĩ sùng lễ, nhật tích nguyệt luỹ, tự nhiên quán thông, cùng lý tận tính dĩ chí ô mạng, tinh ý nhập thần dĩ chí dụng, mạc bất do thử hốt xuất hĩ”[12].

Lê Quý Đôn đề cao học thuyết cách vật chí tri của Chu Tử và dùng đó làm nguyên liệu để biên soạn cuốn sách. Theo Chu Tử, cách vật chí tri là trục trung tâm xuyên suốt của công phu, là con đường học hỏi suốt đời của ông. Với công phu ấy, chúng ta có thể nghiên cứu ranh giới thiên - nhân và còn đạt tới hiệu quả tu tề trị bình. Bản lĩnh cách vật chí tri có được là xuất phát từ “lý khí luận”, Chu Tử cho rằng, “thiên hạ chi vật tắc bất hữu sở dĩ nhiên chi cố, vu kỳ sở đương nhiên chi tắc, sở vị lý dã”[13]. Bản thể luận của Chu Tử lấy cái lý làm khái niệm đầu tiên, đó là cái lý (chỉnh toàn chi lý) của vạn vật trong trời đất, vũ trụ, là căn cứ tồn tại của tất cả mọi thứ. Vì thế, vạn vật đều có “sở dĩ nhiên chi cố”, “sở đương nhiên chi tắc”, cái lý tồn tại và cái lý đương thời lẫn vào nhau không rời. Bản lĩnh cách vật chí tri của Chu Tử chính là quá trình tích luỹ không ngừng chắt lọc, nghiên cứu cái lý tồn tại của mọi sự vật với cái lý đương nhiên. Tư tưởng này đã ảnh hưởng tới Lê Quý Đôn và trở thành quan điểm biên soạn Vân đài loại ngữ của ông. Cái mà Lê Quý Đôn gọi là “đạo tại sự vật, sự vật hữu đạo” cũng là chỉ vạn vật, vạn sự trong thiên hạ: “mạc bất hữu lý yên, mạc bất hữu ý yên”. Nói cách khác, vạn vật trong trời đất là “thực hữu” (being) chứ không phải là “hư vô” (nothing). Muốn khẳng định được cái thực hữu, nhiệm vụ của người quân tử là phải thể hiện được giá trị tồn tại của vạn vật. Theo nghĩa này, cách vật chí tri có tác dụng tích cực, trở thành phương hướng tất yếu. Thêm vào đó, cũng như Chu Tử, Lê Quý Đôn lý giải “cách vật chí tri” có liên quan rất chặt chẽ với sự đúc kết những tri thức bên ngoài, nhấn mạnh đến cái bác học đa văn. Ông viết: “Dịch viết quân tử đa thức tiền ngôn vãng hành dĩ mục kỳ đức. Thư viết nhân cầu đa văn, thời duy sở sự. Khổng Tử viết tiểu tử hà mạc học phu “thi”, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức ô thảo mục điểu thú chi danh. Thử giai cách vật công phu. Nhiên năng thụ chi ước, trạch chi tinh, tắc tuy cổ kim sự vật phân nhiêm hô tiền, tự hữu dĩ châm chước bản mặc, dung hợp thuỷ chung diệc kiến kỳ thư đồ nhi đồng quy, thù đồ nhi nhất chí. Hà chí hữu bác nhi quả ước, lao nhi vông công chi sở tai?”[14].

Theo Lê Quý Đôn, nghe nhiều, biết nhiều là cách vật công phu, có tác dụng rất tích cực. Công phu đó giúp ta đối mặt với các sự vật hỗn độn mà định đoạt mới có thể châm chước cái yếu trọng, từ cái phong phú trở về cái ước lệ. Rõ ràng, đối với bản lĩnh cách vật chí tri, Lê Quý Đôn nhấn mạnh xu thế tri thức rộng của nó sẽ mang tới ý nghĩa tích cực. Còn với vấn đề căn cứ đạo đức thực tiễn có liên quan tới công phu cách vật chí tri của Chu Tử không phải là chủ đề Lê Quý Đôn quan tâm.

Mặc dù Vân đài loại ngữ bao gồm các lĩnh vực thiên văn, địa văn, nhân văn, nhưng vẫn lấy bản lĩnh “cách vật chí tri” làm trục xuyên suốt. Lê Quý Đôn viết: “Nhật nguyệt tinh thần, thiên tri văn dã. Trung ngoại khí hậu tuy dị, thứ xá triền độ thuận nghịch nê tốc, hà mạc bất hữu thường hốt? Sơn xuyên thảo mộc, địa chi văn dã. Bĩ thử chi hình loại tuy dị, mạch lạc nguyên uỷ, cao bất phì tích, hà mạc bất hữu thường hốt. Lễ nhạc pháp độ, nhân chi văn dã. Cổ kim duyên cách, trung ngoại hảo thượng, cách hữu bất đồng. Kỳ sở dĩ nhân thần lập giáo, thông biến nghị dân chi tắc nhất nhi dĩ [….] cổ chi quân tử hành chi, hậu chi quân tử do chi, sở vị “cách vật” dã. Thử dã, sở vị “chí tri” giả thử dã, sở vị “cụ chúng lý nhi ứng vạn sự”, giả thử dã. Phi phiếm tòng sự ô ngoại nhi bất cầu ô nội dã, bất nhiên vạn vật nhi cách chi, bất cơ ô đa kỳ vong dương dã?”[15]. Lê Quý Đôn cho rằng, thiên văn, địa văn, nhân văn đều có cái bất biến; tuy chúng đặc thù khác nhau, nhưng đều có cái thường tình của nó – nguyên lý bất biến. Thông qua bản lĩnh cách vật chí tri của Chu Tử, ta vừa thấy thiên địa vạn vật nhân sự bất biến, vừa biết được cái lý thường tình của nó. Làm gì có cái tệ “ngoại cầu nhi khiển nội”.

Chính vì lẽ đó, từ việc sưu tập tư liệu cho Vân đài loại ngữ được chia thành từng loại rõ ràng cho đến việc biên soạn các ý, tất cả đều được sắp đặt theo ý niệm “cách vật chí tri” của Chu Tử. Tri thức đa dạng của Vân đài loại ngữ được thể hiện rất rõ, đúng như lời Lê Quý Đôn: “tự suỷ thượng yên hoặc thiệp ô cao hư, hạ yên hoặc lưu ô thiển cận, đan sự sự vật vật, thô hữu điều tự, ô dĩ khảo kính tam tài, thù tạc bách biến, vị tất vô trợ”[16]. Vì thế, đối với vấn đề tâm tính lý khí tinh vi trong Tân Nho học thời Tống Minh, không phải là Lê Quý Đôn không bàn luận tới trong Vân đài loại ngữ.

III. Luận lý khí của Lê Quý Đôn

Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn với quyển thứ nhất là “Lý khí” thể hiện vũ trụ quan và tư duy hình nhi thượng của ông. Theo mục lục có thể thấy chủ ý của ông trong việc tuyển lựa là: “Lưỡng nghị định vị, nhị khí ma đãng, vi nhân vi vật, hữu tính hữu mạng. Y bốc phong thuỷ, chí lý sở tồn, tiên thích quỷ thần, miễu mang mạc tắc. Trung đạo nhi lập, duy thường dị tòng. Tác lý khí ngữ đệ nhất”[17].

Lê Quý Đôn cho rằng, trời đất vạn vật đều là âm dương - nhị khí xoay vần mà thành, đều có chí lý tồn tại, tức là trong cái khí biến hoá tất có cái thường lý bất biến làm chủ. Và, Lê Quý Đôn cũng thu nạp tất cả với tinh thần thâu tóm toàn bộ, không những đối với y bốc phong thuỷ hay các thuyết Đạo giáo, Phật giáo, mà còn đến cả luận quỷ thần, ông đều có thể lấy mô thức tư duy “lý khí” ra để giải thích và không giới hạn thảo luận trong nội bộ về Nho học. Vì thế, trong quyển “lý khí” có tất cả 54 đoạn có bàn luận đến lý khí, bao quát rất nhiều mặt. Do luận về lý khí của ông rất rắc rối, nên tôi không thể đi sâu vào toàn bộ, mà chỉ có thể phân tích một vài đoạn điển hình.

1. Khắp đất trời đều là khí, lý ở trong khí

Về cơ bản, luận lý khí trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn không tư duy “hình thượng” nhiều, mà ngược lại, luận vũ trụ rất nhiều. Tôi cho rằng, Lê Quý Đôn rất hứng khởi với luận khí hoá vũ trụ, ông quan sát thiên nhiên vạn vật, lấy truyền thống luận khí hoá vũ trụ từ thời Lưỡng Hán về sau làm trọng, rồi thêm vào đó tư duy luận lý khí của Chu Tử. Lê Quý Đôn viết: “Doanh thiên địa chi gian khí dã. Lý dã, ngôn kỳ thực hữu nhi phi vô nhĩ. Lý khí hình tích, nhân khí nhi kiến, ý tức tại khí chi trung. Âm dương kỳ ngẫu tri hành thể dụng, khả dĩ đối ngôn, nhi lý, khí bất khả dĩ đối ngôn dã”[18].

Đây là một luận thuyết điển hình, phản ánh được tư duy Chu Tử trong luận lý khí của Lê Quý Đôn. Giống như câu “doanh thiên địa chi gian giai khí dã” nhiều lần xuất hiện trong các kỳ khoa cử thời Minh Thanh Trung Quốc, (thời Minh Thanh có rất nhiều nhà tư tưởng đã từng sử dụng loạt điển cú này). Quan trọng là mệnh đề này có bao nhiêu hàm ý sâu xa nội tại. Theo cách nhìn của Lê Quý Đôn, đất trời, vũ trụ đầy những cái biến của khí, đây cũng là dấu tích của tạo hoá. Tuy nhiên, cái khí này hoạt động không phải là sự tồn tại hư ảo, mà là cái chân thực. Vì thế, ông đưa ra thêm một loạt tư duy có luận lý khí của Chu Tử. Trong tư duy lý khí của Chu Tử, liên kết lý khí có thể nhìn từ hai phương diện. Từ luận thuyết vốn có, lý là căn nguyên tồn tại của khí, vốn Chu Tử chủ trương “hữu thị lý hựu sinh thị khí”[19], tức là lý ra đời trước. Nếu nói từ góc độ vũ trụ, “vô thị khí, tắc thị lý diệc vô qua đáp xứ”[20], khí có tính năng động để thực hiện lý. Vì thế, Lê Quý Đôn chỉ ra “lý vô hình tích, nhân khí nhi kiến, lý tức tại khí chi trung”. Đây là tư duy lý khí Chu Tử điển hình. Bởi vì, “lý vô hình tích” cho thấy cái lý hình thượng không thể thấy được, buộc phải dùng cái khí là cái hình hạ để cụ thể hoá. Khi Lê Quý Đôn nói rằng “Lý giả, ngôn kí thực hữu nhi phi vô nhĩ” và “Lý, khí bất khả dĩ đối ngôn dã” cũng có nghĩa là, ông đã thu nhận quan điểm của Chu Tử cho rằng “lý” là cái thực tại hiện hữu, “lý” và “khí” là quan niệm cơ bản, hạt nhân của suy ngẫm về vạn vật vũ trụ, không như hai khí âm dương, hoặc bàn chung là thể dụng, có thể hoán đổi cho nhau được. Đặc biệt, “khí bất khả dĩ đối ngôn” cho thấy rằng, “lý” và “khí” không thể chuyển đổi cho nhau được, “lý” không thể chuyển sang thuộc tính của “khí”. Với ý nghĩa này, luận thuyết “doanh thiên địa chi gian giai khí dã” không hề là “luận duy khí”, mà nó nhấn mạnh sự gắn kết không rời của “lý tại khí trung”. Quan sát sự sinh thành của vũ trụ, Chu Tử từng nói: “Thiên hạ vị hữu lý chi khí, diệc vị hữu vô lý chi khí”[21]. Bất cứ vạn vật cụ thể nào trong xã hội cũng đều là sự thể hiện của “lý tại khí trung” chính là hướng trong luận lý khí của Chu Tử. Từ đó, có thể thấy, Lê Quý Đôn, trong việc tiếp thu luận lý khí của Chu Tử, rất hứng thú với luận khí hoá vũ trụ và ông đặc biệt nhấn mạnh “lý khí tương tề bất ly”, “lý tại khí trung”.

“Lý tại khí trung” còn tên gọi khác là “lý ngộ ô khí”, đây chính là sự chắt lọc đặc sắc của Lê Quý Đôn về luận lý khí của Chu Tử. Lê Quý Đôn cũng viết: ““Dịch” viết: “Nhân giả kiến đắc vị chi nhân, kí giả kiến đắc vị chi trí, bách tính nhật dụng nhi bất tri”. “Âm phù kinh” viết: “Kỳ đạo có nhất dã, thiên hạ mạc năng kiến, mạc năng tri, quân tử đắc chi cố cùng, tiểu nhân đắc chi kinh mạng”[22]. "Ngữ ý nhất dã, lý khí chi áo, thư ô thử hĩ. Khai hẹp, diệu dụng, cổ vũ, vi thiên di ô thánh nhân, thánh nhân dĩ thuân thiên, chế vạn sự, thành vạn hoa, định vạn quốc, phục vạn quốc”[23]. Và, “Lại nói “dịch chi vi đạo”, biến động bất cứ, chu lưu lục hư, thượng hạ vô thường, sở dĩ năng cùng lý số chi diệu. Lý vạn ô khí, số do vạn lý. Sinh ô tâm, tác vu sự, khí chi nghiệm dã; an nhi hậu lự, lự nhi hậu đắc, khí chi tai dã. Chi nghi nghênh dã, hữu dĩ trí kỳ thuỷ; sinh vô nhi thôi chi, hữu dĩ cứu kỳ chung, kỳ dung “dịch” hốt? (...) cố sở quý hốt trí “dịch” giả, kỳ vi năng trí doanh hư, tiêu tức, cát hung, hối lận, tiến thoái, tồn vong chi đạo, nhi yếu quy ô bất thất kỳ chính nhĩ”[24].

Từ trên, chúng ta có thể thấy rất rõ rằng, Lê Quý Đôn đã từ “lý khí ô luận” để biểu thị tính phong phú, biến hoá của vạn vật trong vũ trụ. Song, làm thế nào để từ trong biến của khí nắm được cái lý chung là bất biến. Đó cũng chính là điểm được Lê Quý Đôn nhấn mạnh. Đây mới thực là ý nghĩa của “lý khí chi áo”. Nói cách khác, thánh nhân chia thành vạn vật, đạo “dịch”. Tức là, trong cái biến quan trường, trong cái khí nhận ra lý, đó mới là cái đạo đơn giản của dịch.

2. Sự tổ hợp sinh thành của trời đất

Trên thực tế, vì Lê Quý Đôn cực kỳ hứng khởi với luận vũ trụ, nên trong cả quyển “lý khí”, ông có rất nhiều trang đề cập đến “khí”. ở đây, tôi chỉ đi sâu bàn về “thiên địa” có quan hệ trực tiếp tới khí như thế nào. Lê Quý Đôn có những diễn giải về sự tạo nên “thiên địa”: “Đại tai càn nguyên, vạn vật tư thuỷ. Chí tai (thường bổ “càn nguyên”), ngôn kỳ hình (đương tác “khí”) dã. Chí tai khôn nguyên, vạn vật tư sinh, ngôn kỳ hình dã. Tự thiên địa ngôn chi, cách hữu hình khí, tự vạn vật ngôn chi, tắc bẩm khí ô thiên thành hình ô địa dã”[25].

Cái mà Lê Quý Đôn gọi là "thiên địa", tức chỉ nguyên lý cơ bản mà vũ trụ sáng tạo "càn khôn", chính là thế giới tự nhiên. Từ càn nguyên mà nói, trời là nguyên lý sáng tạo nên cái sinh vạn vật; về khôn nguyên mà nói, địa là nguyên lý chung thành, tức là cái nguyên liệu sinh ra vạn vật. Lê Quý Đôn đã dùng cái đức càn khôn mà khí hoá âm dương, vì sự sáng tạo ra trời đất không ngừng ấy là cái khí của thái cực hỗn nguyên, trong đó có lý. Theo đó, trời thuộc khí dương, đất thuộc khí âm, hoặc trời thuộc thanh khí, đất thuộc trầm khí. Vì vậy, càn ý chỉ "trời", về khí, đó là cái khí vô hình; khôn chỉ "đất", xét về "hình" là cái khí có thể thấy được. Trong sự hỗn độn của hai khí âm dương, trời là khí, còn đất là hình, trời đất do đó mà thành. Còn nói về sự tạo thành vạn vật, tất cả đều là "bẩm khí ô thiên, thành hình ô địa". Tư duy này nghĩa là, trời đất có trong khí hoá âm dương, đây là mô thức luận khí hoá vũ trụ truyền thống. Chu Tử cũng có cách nói tương tự, ông nói: "Thiên dĩ khí nhi y địa chi hình, địa dĩ nhi phục thiên chi khí”[26]; "thiên địa sơ gian tắc chỉ thị âm dương chi khí","khinh thanh giả vi thiên, trọng trọc giả vi khí"[27]. Thực tế, Lê Quý Đôn nói về khí và hình trong thiên địa chính là "khí" và "chất" mà Chu Tử và Tân Nho học đề cập đến; khí là khí vô hình, khí vô hình tích tụ lại sẽ thành "chất" (hình), nên vũ trụ vạn vật đều từ "hình" (chất), "khí" tổ hợp thành.

Đối với quan điểm "trời đất được sinh ra như thế nào"? Lê Quý Đôn cũng giải thích bằng tư duy "thể, "dụng": “Thiên thuộc dương, địa thuộc âm, dương chủ động, âm chủ tĩnh thử phân phối chi ngôn nhĩ. Thiên chi dụng thường cần, kỳ thể vị thường bất tĩnh; địa chi thể thường tĩnh, kỳ dụng vị thường bất động. Thiên nhi bất tĩnh, tắc tử duy hà dĩ yên cố? Thất chính hà dĩ phụ lệ? Địa nhi bất động, tắc chỉ thị khối thiên nhất vật, nhi sinh ý có hồ tức hĩ. Thiên, hình động nhi khí tĩnh; địa hình tĩnh nhi khí động”[28].

Lê Quý Đôn có sự bàn luận sâu sắc về sự hình thành vạn vật. Đó là, hai khí âm dương trao đổi động lực lẫn nhau, làm cho vạn vật vũ trụ sinh sống không ngừng. Lê Quý Đôn vận dụng kết cấu tư duy thể dụng của Chu Tử để chỉ ra rằng, trời nhờ dương khí để hoạt động, nhưng bản thể của nó vị thường không tĩnh, là bản thể của chất chí tĩnh nên thế giới nhân văn như bốn chiều, bảy chính mới có thể yên vị. Cũng như vậy, đất thuộc về âm khí, nhưng không phải là một vật khối không vận động. Cái hình thể của nó tuy là tĩnh, nhưng vẫn có riêng giao cảm của hai khí âm dương mà thành. Như vậy, Lê Quý Đôn chủ trương "thiên tĩnh địa động".

3. Sự biến đổi đa dạng của phong khí

Đối với sự tổ hợp và sinh thành trời đất, Lê Quý Đôn dùng sự hỗn độn của hai khí âm dương để giải thích. Đặc biệt, do đặc thù trời đất, sự sinh thành, biến hoá trong thế giới tự nhiên tại khu vực Vĩnh Nam ở phía Nam Trung Quốc biểu hiện rõ rệt hơn cả. Lê Quý Đôn đã có nhiều quan sát lý thú về diện mạo đa dạng của trời và khí thế giới tự nhiên. Nhận định của Lê Quý Đôn về sự biến đổi của phong khí là một ví dụ điển hình, ông viết: “Thiên chi hạ, địa chi thượng, giai phượng khí dã. Cận nhân chi xứ, bất kiến hữu phong cái vi chúng vật sở chướng ngại, sinh ý sở dụng tán. Sảo cao, tắc phong đại; cực cao tắc phong du đại nhi cương táo lữ. Thư như sơn hạ tham thổ, nhân tạc chí thượng dư, sơ ưu nhuyến nhuận, tổng xuất địa thượng, sứ dĩ thành thạch, khỉ phi kiến phong nhi cương. Anh nhi tại mẫu phục, chỉ thị nhất khối huyết bào, sơ sinh tiện kiên, thực diện kỳ lý dã. Thiên khí hạ giáng, địa khí thượng đằng, thiên địa chi khí giai sinh ý dã, phong khí chu huyền kỳ gian, vô thời bất hữu, phi động thần hữu, tịnh thần vô dã”[29]. Ở đây, Lê Quý Đôn đã chỉ ra rằng, giữa trời đất lúc nào cũng là sự lưu biến của khí. Riêng về cái khí vô hình của trời, cái cụ thể nhất có thể cảm nhận được chính là "phong". Ông gọi đó là "phong khí". Từ quan sát hiện tượng tự nhiên, ông thấy rằng ở trên cao, vì không có chướng ngại vật nên gió to, đến chỗ cực cao thì có hiện tượng phong hoá. Cũng như vậy, hướng xuống đất, đất sâu thì mềm, phía trên mặt đất thành đá cũng có liên quan ít nhiều đến phong hoá. Theo suy đoán này, trẻ em khi mới được sinh ra cũng là biến hoá của khí "phong". Nên theo Lê Quý Đôn, thiên khí mà hạ giáng, thì địa khí tăng lên, tự nhiên hình thành đối lưu của dòng khí, đó gọi là phong khí, sự lưu động phong khí, tức là việc của trời đất, động tĩnh đều có phong khí vận hành không ngừng. Trên thực tế, từ hiện tưọng tự nhiên có thể đi vào bất cứ vật thể và không gian nào, nên Chu Tử cũng quan sát được "phong chi vi vật, vô vật bất nhân"[30]. Nhưng, Lê Quý Đôn muốn lấy hiện tượng tự nhiên “phong” để tiến thêm một bước, nói về tất cả các hiện tượng tự nhiên. Điều đó đã cho thấy sự hứng khởi cao độ của ông đối với vũ trụ thiên nhiên. Theo quan điểm khoa học tự nhiên hiện nay, mặc dù những luận giải của Lê Quý Đôn còn sơ lược, nhưng ít nhất, nó đã cho chúng ta thấy vũ trụ quan của ông đằng sau những tri thức về tự nhiên đó.

Sự coi trọng phong khí của Lê Quý Đôn còn được thể hiện qua những quan sát về gió bão của ông: "Cự tự tòng cụ, vị cụ đông tây nam bắc chi phong dã. Khởi ô triều giả tam nhật, khởi ô mộ giả thất nhật. Kỳ khởi dã, tự đông tây nam bắc giả, tát tự bắc nhi tây, tự tây bắc lai giả, tất tự bắc nhi đông, binh chí vu nam ngãi tức. Vị chi lạc tây, vị chi hồi nam nhược bát lạc tây, bát hồi nam, tác du nguyệt phức tác, tác bất đối thần: nhật tác thứ nhật chỉ, dạ tác, thứ dạ chỉ. Cự nãi bất chính chi phong, đạo khí chi biến, nhi diệc hữu thường, độ như thử”[31].

Việc Lê Quý Đôn quan tâm, giải thích về gió bão cho thấy rằng, ông coi trọng suy luận về cái biến của phong khí. "Bão phong" không phải là chính phong, nhưng sự dịch chuyển của nó có theo quy luật. Kiểu giải thích này dù không phù hợp với quan diểm khoa học ngày nay, nhưng nó đã đại diện cho quan điểm tự nhiên theo luận khí hoá vũ trụ trước Cận đại, đồng thời cho thấy sự hứng thú của Lê Quý Đôn đối với "cách vật", "chí tư".

Ngoài việc Lê Quý Đôn dùng "phong khí" để giải thích các hiện tượng tự nhiên ra[32], ông còn rất quan tâm đến thuyết "phong thuỷ". Lê Quý Đôn viết: "Hoành cừ bất tín phong thuỷ, nhiên hữu viết "nam phương dụng thanh nang kinh, ưu hoặc đắc chí, nam nhân thức tác địa, tương ngũ sắc tuyến thổ địa hạ, kinh niên thủ quán chi, địa khí mỹ tắc thái sắc bất biến, địa khí ác tắc biến hĩ.". Hữu dĩ khí trữ thuỷ dưỡng tiểu ngư, địa thổ địa kinh niên, dĩ ngư sinh tử bốc địa mỹ ác”[33].

Từ sau Lưỡng Hán, luận vũ trụ khí hoá dù là truyền thống của dân tộc Hoa Hạ, nhưng các nhà Nho học Tống Minh đã mở ra hướng đi riêng, lấy tư duy đạo đức tính để nhìn thế giới vạn vật. Vì thế, nhà lý luận học về lý khí nổi tiếng thời Tống là Trương Hoành Cừ (1020-1077) không tin chút nào vào thuyết phong thuỷ. Tuy nhiên, Lê Quý Đôn lại đặc biệt viện dẫn những quan sát thu được về hiện tượng tự nhiên của Trương Hoành Cừ, ý tại ngôn ngoại cho rằng thuyết phong thuỷ là phù hợp với cách nói luận khí hoá vũ trụ. Lê Quý Đôn cho rằng, thuyết y bốc, phong thuỷ, sự biến đổi phong thuỷ đều có cái lý của nó, không nên xem thường.

4. Thiên nhân hợp đức, thiên nhân cảm ứng

Lê Quý Đôn không chỉ hứng khởi với luận khí hoá vũ trụ, mà còn khẳng định tư tưởng "thiên nhân hợp đức" của Tân Nho học, đồng thời ông cũng tiếp thu tư tưởng "thiên nhân cảm ứng". Lê Quý Đôn luận viết: "Thiên dĩ hư vi đạo, địa dĩ tính vi đạo, nhân năng hư tĩnh, phương năng hợp thiên địa chi đạo. Cái hư tắc minh bạch, tĩnh tắc quy định tâm minh lý dịnh, tham tán chi công ô thi hộ tại”[34]. Ở đây, Lê Quý Đôn không dùng âm dương để miêu tả đạo trong trời đất, mà lấy cái "hư tĩnh" để giải thích đức trong thiên hạ. Vì thế, người và trời hợp đức, người cũng nên lấy cái "hư tĩnh" hợp với cái đạo trời đất. Do hư tắc danh, tĩnh tắc định, nên "tâm minh lý định" có thể tham dự vào hoạt động của trời đất. Thực tế, cái đức "hư tĩnh", “tâm minh lý dịnh” Lê Quý Đôn nhắc tới cũng chính là “tâm tĩnh lý minh” mà Chu Tử nhấn mạnh.

Sở dĩ, thiên nhân có thể hợp đức lại là vì cái tâm người chính, nên Lê Quý Đôn viết: "Nhân tâm chị đại, thượng khả dĩ thông thiên địa, trung khả dĩ trắc quỷ thần, hạ khả dĩ sát vạn vật, tượng số chi diệu. Tán ô hình khí, tự ô xuất hữu, tự hữu nhân vô, diểu vi chương chi gian, mặc phi đạo dã. Chính tâm nhi hậu năng chi đạo. Tri đạo nhi hậu nặng kiến cơ, kiến cơ nhi hậu năng quyền vận. Mệnh do nhân chế, phi năng chí nhân dã, thiên nhân hợp nhất lý, bát quá như thử”[35]. Rõ ràng, Lê Quý Đôn nhấn mạnh tính tích cực, chủ động của chữ chính trong nhân tâm, chỉ có chính tâm thì mới biết được đạo, mới có thể làm nên cái đức thiên nhân hợp đức, thiên nhân hợp nhất. Lê Quý Đôn đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng "thiên nhân hợp đức" của Chu Tử học.

Dù rất say mê khí hóa vũ trụ luận, nhưng Lê Quý Đôn vẫn tiếp thu thuyết “thiên nhân cảm ứng” thời Lưỡng Hán. Ông đã dùng ví dụ “nhật thực”: “Nhật thực hữu thường độ, thiên ô nhân sự chi biến, vi thưởng bất tương quan. Nhân tương vi bất thiện, nhi nguyệt hành nhân giao thực đọ giả, sứ lăng yểm, thử nhân chi khí động hốt thiên dã. Thiên tương dục âm vũ, nhi nhân tố hữu đả điệt thương giả, tiện tiên giác toan thống, thử thiên chi khí động đốt nhân dã, khả dĩ nghiệm thiên nhân nhất lý”[36]. Ông còn lấy mối tương cảm giữa sự biến đổi của tự nhiên khí hoá với trị loạn đạo làm ví dụ: “Khi chi sở vi, thần hốt! Vi hốt! Thành tất thư, suy tất thúc, ô mộc căn chi khí sinh khô kiến chi; thanh tất thông; trọc tất trất; ô nhân tâm chi thông ám kiến chi, doanh tất trường, thư tất tiêu, ô hải thuỷ chi triều tịch kiến chi; hoà tất hợp, quai tất ly, ô thế đạo chi trị loạn kiến chi”[37].

Lấy cái biến của nhật thực đối ứng với cái biến của nhân sự là tư duy “thiên nhân cảm ứng” điển hình thời Lưỡng Hán; từ thiên nhân chi lý kết từ hiện tượng tự nhiên là khí của nhân động tới thiên, khí của thiên động tới nhân cùng với những kinh nghiệm quan sát, tức là nói về khí hoá, không phải nói về cái đức của thiên nhân. Cũng như vậy, cái biến hoá của khí là khôn lường, âm dương trong đục tương ứng với sự thông suốt hay bế tắc của nhân tâm. Từ biến hoá tự nhiên luận đến việc trị loạn trong thế đạo đều được xây dựng trên sự cảm ứng lẫn nhau của khí biến, chứ không nói đến sự tự giác của đạo đức. Tất cả đã cho thấy rằng, tư duy “thiên nhân cảm ứng” có mối tương quan với luận khí hoá vũ trụ.

5. Quỷ thần với tiên, thích

Bất luận thuyết tiên, nhân hợp đức thời Tống Minh hay thuyết thiên nhân cảm ứng thời Lưỡng Hán đều được phản ánh trong giải thích về “quỷ thần”, Lê Quý Đôn, trong số 54 điều loại ngữ luận về lý khí, có trích dẫn thuyết Chu Tử như sau: “Chu Tử viết “khuất thân lai vãng giả, khí, dã. Nhân chi khí tương thiên địa chi khí, tương tiếp vô gian, nhân tâm tài động biện tâm đạt ô khí, dư giá khí khuất thân lai vãng giả tương cảm thông. Như bốc phệ chi loại, giai thị tâm trung tự hữu thử vật, chỉ thị thuyết tâm thượng sự, thái động tức ứng””[38]. Hựu viết “Nhân bẩm thiên địa ngũ hành chi khí, giá khí loại tòng nhân tâm trung quá. Kim dĩ ngũ hành chi can thôi diễn nhân mạng, dư địa lý gia thôi trạch sơn lâm tướng bội, giai thị thử lý”[39]. Ngu vị “hộp thử nhị thuyết quán chi, tắc tiên sinh phi duy trọng bốc phệ, nhi mệnh số hình tượng chị đàm, giai tại sở bất phế hĩ. Nhị thuyết hảo biện giả thường bác chi, chung thị ô lý khí hữu quy giá; bất khả nhiệm dã”[40].

Đối với những người theo Tân Nho học như Trương Hoành Cừ hay Chu Tử, quỷ thần cũng chính là sự lên xuống của khí, nên mới nói: “quỷ thần chỉ là khí”, “chẳng qua là âm dương tiêu chưởng mà thôi”[41]. Ví dụ, “thần, tức là thẳng, quỷ tức là cong. Cũng như sấm chớp khi mới phóng điện thì thẳng; đến khi mưa gió qua rồi thì là thần, sấm chớp đứt rồi thì là quỷ”[42]. Từ đó, có thể thấy, Chu Tử luận quỷ thần không hề có sắc thái thần bí ở trong. Còn đối với những thuyết có trong dân gian về quỷ thần, Chu Tử đối mặt bằng thái độ tiêu cực của Khổng Tử: “vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ?”. Do đó, Chu Tử nói: “chuyện quỷ thần là tự bịa ra người thứ hai, những cái vô hình của ảnh kia, là khó lý giải, vậy cần gì phải lý giải, mà hãy lấy những cái thực hàng ngày làm bản tính cho ta”[43]. Dù đứng trước những quẻ bói, Chu Tử cũng nói bằng sự thành tâm của mình. Cũng như vậy, từ ngũ hành của con người suy diễn đến mệnh của con người, các nhà địa lý suy diễn phong thuỷ, suy diễn từ khí, có lý thì có tuần hoàn. Hai đoạn văn trên của Chu Tử có trọng tâm là lấy quẻ số, thuyết mệnh số hình tượng để nói rõ về cảm ứng của cái khí. Song, Lê Quý Đôn đã mượn nó để nhấn mạnh rằng, Chu Tử coi trọng quẻ số và địa lý phong thuỷ. Vì vậy, trong luận thuyết lý khí của Lê Quý Đôn có phần thừa nhận đối với các tri thức về luận quỷ thần dân gian thần bí, quẻ số, tướng mệnh, địa lý, phong thuỷ,…[44].

Đồng thời, Lê Quý Đôn còn có thái độ bao dung đối với Đạo giáo và Phật giáo, ông viết: “Tiên gia chi thuyết, luyện hình dã; Phật gia chi thuyết, luyện thần dã. Hình thần giai tư khí dĩ lập, khí tụ tắc đạo thành, tán tắc đạo bất thành hĩ. Dĩ nhật nguyệt thí chi, tiên gia tắc như tán, Phật gia tắc như kỳ ảnh, tán hành thiên thượng, vị thuỷ bất hữu ảnh, tán thuỷ chung, vị thuỷ bất tồn” [44]. Nghĩa là, theo Lê Quý Đôn, Đạo giáo chú trọng luyện hình, Phật giáo nhấn mạnh luyện thần, hình và thần xét về khí đều là thể tiếp nhận đưa vào trong khung lý luận khí hoá vũ trụ: “bẩm khí ô thiên, thành hình ô địa”. Dù Nho gia không tin thuyết “luân hồi” của Phật giáo, nhưng Lê Quý Đôn vẫn khẳng định điều này. Vì thế, Lê Quý Đôn không như các nhà Tân Nho học thời Tống Minh bài xích Phật, mà trái lại, ông coi luận lý khí là khung tư duy chung của tam giáo.

6. Sự tiếp xúc của Lê Quý Đôn với các giáo sĩ phương Tây và tri thức khoa học tự nhiên của họ

Là một đại Nho gia có tầm nhìn quốc tế, Lê Quý Đôn cũng rất đam mê các tri thức khoa học tự nhiên phương Tây được truyền bá vào Trung Quốc trong thế kỷ XVII - XVIII. Ông đã từng đọc qua các thư tịch và tri thức tự nhiên phương Tây do các hội sĩ Thiên Chúa thế kỷ XVII – XVIII truyền bá vào Trung Quốc, như Ricci Matteo (1552-1610), Aleni, P.Julin (1582-1649); Verbiest Ferdinasu (1623-1688). Ông đã dịch “Khôn dư đồ thuyết”. Điều thú vị là, ông vẫn lấy tư duy khí hoá vũ trụ truyền thống Trung Quốc để lý giải hoặc học hỏi tri thức khoa học tự nhiên của phương Tây, đồng thời vận dụng và tiếp nhận khí hoá và tư liệu truyền thống. Do đó, Lê Quý Đôn đã đưa ra sự đồng tâm, đồng lý của thánh nhân Đông - Tây, đánh giá chính diện về tri thức khoa học tự nhiên mà các giáo sĩ phương Tây mang tới, đặc biệt là cống hiến của họ về lịch pháp.

IV. Kết luận

Ở Đông Nam Á, mặc dù Thái Lan, Lào và Campuchia cũng đã từng ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, nhưng, có thể nói, Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng của Nho học Trung Quốc nhiều hơn cả. Đặc biệt, sau khi truyền vào Việt Nam, Nho học Trung Quốc đã chuyển hoá thành truyền thống văn hoá bên trong, thể hiện đặc sắc của Nho học Việt Nam tại bản địa. Luận “lý”, “khí” của Lê Quý Đôn là một ví dụ điển hình về nét đặc sắc của Nho học Việt Nam[45].

Trong lịch sử Nho học Việt Nam, triều Hậu Lê là đỉnh cao phát triển của Nho học Việt Nam. Trong đó, có thể nói, Lê Quý Đôn là học giả tập đại thành của Nho học Việt Nam. Các trước tác của ông dày dặn, mang cả kinh, sử tự, tập, thông cả thiên văn, địa lý, nhân văn, lại thêm kinh nghiệm giao lưu quốc tế với hai lần đi sứ Trung Quốc, nên ông có một tầm nhìn quốc tế khá sâu sắc. Trong các tác phẩm của ông, Vân đài loại ngữ là cuốn sách triển khai những học vấn uyên bác kiểu bách khoa toàn thư của ông, đồng thời phản ánh tư tưởng triết học có nguồn gốc Nho học của ông. Ngay chương đầu tiên của cuốn sách đã có tên là “Lý khí”, đủ thấy Lê Quý Đôn coi trọng học hỏi luận lý khí của Chu Tử như thế nào.

Qua phân tích chương “Lý khí” này, tôi phát hiện ra rằng, Lê Quý Đôn suy ngẫm về luận lý khí là có cơ sở truyền thống luận khí hoá vũ trụ từ thời Lưỡng Hán trở lại đây, ông tiếp thu luận “lý khí bất ly” của Chu Tử. Nếu ở phần trước, ông chủ trương “doanh thiên địa chi gian giai khí dã”, hứng thú nồng nhiệt với vũ trụ luận, thì ở phần sau, ông nhấn mạnh “lý tại khí trung” với sự biến đổi của khí hoá, tìm tòi nghiên cứu về cái lý thường xuyên bất biến. Đối với “lý khí bất ly” trong luận lý khí của Chu Tử, hay luận đề hình thượng học (như “lý sinh khí” hoặc “lý tiên khí hậu”), Lê Quý Đôn không hướng đến. Thậm chí, trong luận thuyết lý khí, mặc dù lấy “thiên nhân hợp đức” của Tân Nho học Minh Thanh làm trục chính, nhưng ông vẫn bảo lưu tư duy luận khí hoá vũ trụ “thiên nhân cảm ứng” thời Lưỡng Hán. Vì thế, Lê Quý Đôn không giống như các nhà Tân Nho thời Tống Minh chỉ tôn sùng lý tính, bài xích tàn dư thần bí của luận khí hoá vũ trụ. Mà trái lại, Lê Quý Đôn đã dung hoà Tân Nho học của Tống Minh với luận khí hoá vũ trụ thời Lưỡng Hán, tạo nên luận lý khí của mình. Thậm chí, ông còn dung hợp được cả tam giáo Nho, Thích, Đạo. Đó chính là sự kết nối với truyền thống dung hợp tam giáo của Việt Nam. Ông cũng thừa nhận các thuyết y bốc, phong thuỷ, quỷ thần, cơ bản trong phong tục tập quán của Việt Nam. Đặc biệt, với sự quan sát khí hoá của trời đất, ông nhấn mạnh tính đa dạng của phong khí, nói rõ sự giống và khác nhau của phong thổ nhân tình, của cổ kim ở Trung Quốc và nước ngoài. Thậm chí, Lê Quý Đôn còn dùng luận lý khí làm tư liệu, liên hệ với các tri thức khoa học tự nhiên Trung Quốc và phương Tây thế kỷ XVII - XVIII để một lần nữa khẳng định học thuật của các giáo sĩ Hội Thiên Chúa, giữ nguyên tính mở của họ.

Đáng chú ý là, trong các luận thuyết của Lê Quý Đôn, tư duy hình nhi thượng không phải là trọng tâm. Mà trái lại, trong các nghiên cứu đa dạng và phong phú của ông, chúng ta thấy rằng, “phong thổ” đặc thù là do môi trường tự nhiên, lịch sử và văn hoá Việt Nam đã tác động, hoà quyện mà tạo nên. Theo cách nói của học giả người Nhật He shi zhe lang (1889-1990), cái gọi là phong thổ chính là tên gọi chung của khí hậu, khí tượng, địa chất, địa vị, địa hình, cảnh quan của một khu vực, còn gọi là thuỷ thổ[46]. Nhưng thực tế, không những có thể dùng khái niệm tự nhiên để định nghĩa phong thổ, mà còn có thể coi đó là một khái niệm nhân văn học và theo đó, phong thổ bao gồm phong thổ tự nhiên và phong thổ nhân văn. Hai loại này không tách rời nhau. Nếu dùng khái niệm phong thổ của He shi zhe lang, Việt Nam thuộc loại phong thổ “quý phong hình” điển hình[47]. Vì vậy, trong luận lý khí của Lê Quý Đôn thường nhấn mạnh khí hoá, địa lý phong thuỷ và sự ảnh hưởng lẫn nhau của phong thuỷ đối với con người, phong tục tập quán. Cũng vì thế, nếu chúng ta đi sâu vào lý luận “phong thổ” của Nho học Việt Nam, thì sẽ càng thấy được tính đa dạng, phong phú của Nho học Việt Nam.


(*) Phó giáo sư, Viện Nghiên cứu Văn - Triết, Viện Hàn Lâm Sinica.

[1] Đỗ Duy Minh kế thừa thuyết của Mạc Tôn Tam, hơn nữa còn có cả cái gọi là thuyết “Nho học tam kỳ”, đồng thời chỉ rõ: cách lý giải chung của cái gọi là Nho học tam kỳ là, xét về xu thế lớn, từ thời Tiên Tần, Nho học đã phát triển trở thành một trong những dòng chảy chính của tư tưởng Trung Quốc; đây là thời kỳ thứ nhất; Nho học trở thành biểu hiện của văn minh Đông Á từ sau khi phục hưng trong thời nhà Tống, đây là thời kỳ thứ hai; Thời kỳ thứ ba bắt đầu từ sau chiến tranh Giáp Ngọ, phong trào Ngữ Tứ. Xem: “Tương lai phát triển thời kỳ thứ ba của Nho học”, “Tinh thần hiện đại và truyền thống Nho gia”. Quách Tế Dũng, Trịnh Văn Long (biên soạn). “Đỗ Duy Minh văn tập”, Nxb Vũ Hán, 2002, t.2, tr.603. Hựu Trần Lai cũng chỉ rõ: Tân Nho học là biểu hiện chung của văn minh Đông Á (xem: “Đông Á Nho học cửu luận”, Bắc Kinh tam liên thư điếm, 2008, tr.2).
[2] Giản thuật vương triều phong kiến Việt Nam, xem Vu Hướng Đông, Đàm Chí Từ. Việt Nam: dần dần đứng lên từ trong tiến trình Đổi mới, Nxb Đại học đô thị Hồng Kông, 2005, tr.40-49.
[3] Phần trên liên quan đến sự hưng thịnh của Nho giáo Việt Nam, chi tiết xem: Hà Thành Hiên. Nho giáo Nam truyền sử, Nxb Đại học Bắc Kinh, Bắc Kinh, 2000, tr.344-380.
[4] Lê Quý Đôn. Bắc sứ thông lục - đề từ.
[5] Như Lời tựa của Hồng Khởi Hỷ trong cuốn Thánh mô hiền phạm lục của Lê Quý Đôn.
[6] Bùi Bích, Quế Đường tiên sinh thành phục lễ môn sinh điện tề văn, trích từ Hoàng Việt văn tuyển, dẫn theo Vu Hướng Đông (chủ biên). Triết gia nổi tiếng phương Đông bình truyện, (phần Việt Nam), tr.198.
[7] Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục, Ngô Thì Nhậm bạt. Dẫn theo: Vu Hướng Đông (chủ biên). Triết gia nổi tiếng phương Đông bình truyện, (phần Việt Nam), tr.199.
[8] Xem Hà Thành Hiên. Nho giáo Nam truyền sử, tr.357; Vu Hướng Đông (chủ biên). Triết gia nổi tiếng phương Đông bình truyện, (phần Việt Nam), tr.186-193. Bản báo cáo này dựa trên cơ sở nghiên cứu của các bậc tiền bối, để tiếp tục đi sâu nghiên cứu.
[9] Trần Danh (Mạc). Lời tựa Vân đài loại ngữ, Vân đài loại ngữ, 1a-b.
[10] Lê Quý Đôn. Lời tựa Vân đài loại ngữ, Vân đài loại ngữ, 4a.
[11] “Vân hương” là tên hương cỏ, mà “vân đài” còn gọi là Lan Đài, là phòng tàng giữ mật thư ở thời Hán. Cũng chỉ người trông giữ kho sách, nghĩa là mật thư tỉnh. Vu Hướng Đông giải thích: “cái gọi là Vân, nghĩa là chỉ Vân hương, Vân Đài nghĩa trông coi, sắp xếp sách” (Triết gia nổi tiếng phương Đông bình truyện, phần Việt Nam, tr.182). Thuyết này còn phải tiếp tục thảo luận.
[12] Lê Quý Đôn. Lời tựa Vân đài loại ngữ, Vân đài loại ngữ, 2b.
[13] Chu Hy (hiệu điểm). Tứ thư hoặc vấn, Nxb Cổ tịch Thượng Hải, 2001, tr.8.
[14] Lời tựa Vân đài loại ngữ, Vân đài loại ngữ, 2b-3a.
[15] Lời tựa Vân đài loại ngữ, Vân đài loại ngữ, 3b.
[16] Lời tựa Vân đài loại ngữ, Vân đài loại ngữ, 4a.
[17] Mục lục dẫn, Vân đài loại ngữ, 5a.
[18] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 8b.
[19] Chu Tử ngữ loại, quyển 1, tr.2.
[20] Sđd., tr.3.
[21] Sđd., tr.2.
[22] Âm phú kinh là kinh điển của Đạo giáo, nguyên văn là: “Kì tặc cơ dã, thiên hạ mỗ năng kiến, mỗ năng tri…”. Lê Quý Đôn dẫn lại có chút khác.
[23] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 18b.
[24] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 19a-b.
[25] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 8a.
[26] Chu Hy, Lê Cảnh Đức (biên soạn). Chu Tử ngữ loại, Đài Bắc, Nxb Văn Luật, 1986, quyển 1, tr.6.
[27] Sđd., tr.6.
[28] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 9a.
[29] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 10a-10b.
[30] Chu Tử ngữ loại, quyển 89, tr.2287.
[31] Chu Tử ngữ loại, quyển 1, 11a-11b.
[32] Như Lê Quý Đôn nói: “khí khô là gió, khí ướt là mây, mây ngưng là mưa, tất cả đều là khí. Khô, ướt tương tác mà thành sương, sương bốc lên mà sinh chướng, ….” (Xem: Vân đài loại ngữ, quyển 1, 11a).
[33] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 20b-21a.
[34] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 8a.
[35] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 17b-18a.
[36] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 14a.
[37] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 13b-14a.
[38] Chu Tử ngữ loại, nguyên văn là: “quỷ thần chỉ là khí. Các cư thần qua lại tất cả đều là khí. Khí của con người và khí của trời đất thường xuyên tiếp xúc với nhau, không gián đoạn, tự con người không thấy. Nhân tâm vận động, tất đạt tới khí”.
[39] Chu Tử ngữ loại, quyển 4, tr.75-76.
[40] Vân đài loại ngữ, quyển 1, 20a.
[41] Chu Tử ngữ loại, quyển 3, tr.34.
[42] Sđd., tr.34.
[43] Sđd., tr.33.
[44] Lê Quý Đôn thậm chí còn lấy nhân vật lịch sử để chứng minh bốc phệ, Lê Quý Đôn viết: “Trình Tử viết: quẻ bói thời cổ, sở dĩ nghi ngờ, đời sau không phải, xem cái mệnh của nó” (xem: Vân đài loại ngữ, quyển 1, 29b).
[45] Xem: Vân đài loại ngữ, quyển 1, 27b-28a.
[46] He shi zhe lang. Phong thổ, dẫn theo: He shi zhe lang toàn tập, Đông Kinh, 1962.
[47] Sđd., tr.24-43.

Trả lời câu hỏi: "Khai minh là gì?"

Tác giả: Immanue Kant (1724-1840) Người dịch: Đinh Hồng Phúc Nguồn: TRIETHOC.EDU.VN Khai minh là việc con người thoát ra khỏi tình trạn...